March 28, 2015

Phương Thơ(P4)



Bất kể những gì được gọi là nợ công dẫn đến đồng nội tệ bị trượt giá đó là sự tích lũy hàng năm của sự "thâm hụt ngân sách" (budget deficits). Đó là kết quả của nhiều năm chính phủ của những quốc gia đó chi tiêu nhiều hơn từ nguồn thu từ thuế, và nạn nhập siêu trong kinh tế. Với VN, khi mà ADB mới đây cảnh báo mức nợ công chính thức đã tròn con số 60% của tổng sản lượng GDP. 

Nạn nhập siêu kinh tế có 2 loại: Loại nhập siêu cho đầu tư sản xuất như máy móc, linh kiện,...mà không hiệu quả cho sản xuất kinh doanh bởi nạn tham nhũng móc ngoặc để thu hồi ngoại tệ dẫn đến việc thiếu hụt ngoại thì sẽ làm đồng bạc mất giá, nếu tình trạng này kéo dài nó tiên báo cho sự suy nhược kinh tế. 

Loại nhập siêu hàng xa xỉ do dân chúng "nhập siêu" mua tiêu xài, nó tiên báo rằng kinh tế thịnh đạt, thu nhập của người dân tăng, loại nhập siêu này đi kèm đồng nội tệ tăng giá. 

Nếu vào mùa Thu năm nay, nếu lãi suất tại Mỹ tăng, dù chỉ là 0,75 điểm cơ bản, tức là 0,75%, thì cũng khiến con nợ là các doanh nghiệp hay nhà nước khác trên thế giới phải trả chi phí đi vay cao hơn chưa kể là trả lãi với đồng USD tăng giá và đồng USD sẽ hiếm hơn trong quốc gia đó. Vì đằng sau dấu phẩy lãi suất gia tăng của Mỹ thì con nợ đi vay và yết giá bằng đông USD cũng phải thanh toán lãi bạc tỷ USD ở nhà. Nếu các quốc gia này mà sẵn gặp khó khăn tài chính bên trong thì sẽ bị nguy nhất với ảnh hưởng đồng nội tệ sẽ mất giá và lạm phát của quốc giá đó là bằng đồng USD chứ không phải bằng đồng nội tệ. Kết quả là Mỹ tăng lãi suất thì giới đầu tư, và các chủ nợ cho vay ở các nước đó sẽ bán các khoản nợ yết giá bằng nội tệ để mua USD và càng gây thêm biến động cho thị trường khi họ muốn đầu tư vào Mỹ chứ chả cần phải nói đến đồng USD tăng giá. 

Nói gọn lại là lượng tư bản tài chính yết giá bằng đồng USD trên thế giới sẽ giảm dần và trở thành đắt đỏ hơn so với trước đây. Nếu Mỹ tăng lãi suất thì xu hướng tư bản tào chính rút về Mỹ là nơi có lời hơn sẽ có đà gia tốc tăng mạnh hơn và gây nguy cơ dội ngược vào kinh tế cho các nước đã đi vay quá nhiều mà vay bằng đồng tiền Mỹ, khiến đồng USD tại quốc gia đó trở nên khan hiếm, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ thiếu hụt USD tài trợ cho sản xuất kinh doanh. 

Cho nên, VN phải hết sức thận trọng tránh lãng phí, hạn chế các tỉnh nào cũng muốn xây sân bay cấp quốc tế khi mà thu nhập của người dân chưa đủ để mà đi máy bay, xây đường cao tốc chưa dùng đã lún, hay mới đây người ta chặt cây tại Hà Nội và vẽ ra đủ loại phí để bòn rút ngân khố quốc gia mà người ta chỉ "rút kinh nghiệm" mà không chịu từ chức, khiến giới đầu tư và các nhà tài trợ e ngại sẽ không dám cho VN vay với lãi suất tài trợ nhẹ lãi thì VN sau này sẽ khó vay tiền kiểu viện trợ và cần tới sự tài trợ của thị trường, với điều kiện lãi vay đắt đỏ hơn khi cái dây neo đồng bạc của VN ngày càng căng ra dù đồng bạc xanh của Mỹ không hẳn tiếp tục tăng giá.


--------------------------


Trả lời Shirouto Toushika. Những cụm từ "điều chỉnh tỷ giá" hay giữ ổn định tỷ giá ai muốn hiểu sao cũng được. Đó là ngôn ngữ thời thượng chẳng chứa đựng nội dung nào cả. Nếu mà nó là chiếc đũa thần kỳ như vậy thì bây giờ nước Nga của Putin phải sang VN học hỏi chứ đâu cần phải nâng lãi suất trên 2 con số và ào ạt bán ra ngoại tệ như đồng USD và EUR để giữ cho đồng Rúp Nga - Ruble (RUB)khỏi bị trượt giá, và sao không nhân cơ hội đồng RUB rẻ thế thì sao nước Nga không xuất cảng cho mạnh qua các nước đồng minh như Bắc Hàn, Trung Quốc, Ấn Độ, Syria,... Ta nên nhớ Trung Quốc, Nhật Bản ấn định giá trị thấp đồng Nhân dân tệ (CNY), và đồng Yên Nhật (JPY) của họ bằng cách neo giá nó với đồng USD, cùng với một số rổ tiền tệ khác để đòng bạc rẻ xuất khẩu dễ cạnh tranh. Họ giữ tỷ giá thấp bằng cách mua trái phiếu kho bạc Mỹ. Đây là lý do giải thích phần nào hai nước này là chủ nợ lớn nhất của Mỹ. 

Ngoài hai nước Nhật, TQ dựa vào xuất cảng rất lớn ta cần chú ý thêm một nước theo lối trung lập đó là nước Đức, cũng là một nước dựa vào xuất cảng rất mạnh dù đồng EUR năm xưa luôn cao hơn đồng USD. Cụ thể năm 2008 thì 1,43 USD mới đổi được 1 EUR, nhưng nước Đức vẫn xuất cảng rất mạnh mà còn mạnh hơn Nhật rất nhiều, tức là đạt thặng dư mậu dịch trong xuất siêu. Lý do Đức có thể tự chủ về linh kiện, nguyên liệu cho sản xuất ráp chế, cũng giống như Nhật, họ tự chủ nhiều lĩnh vực kỹ thuật sản xuất và chế tạo... 

Điều đó giải thích vì sao? Lấy thí dụ như xứ Venezuela chơ đơn giản. Đơn vị tiền tệ: Bolívar Venezuela bị trượt giá nặng vậy sao không tranh thủ bán hàng cho rẻ nhờ đồng bạc mất giá để thu ngoại tệ về. Nó chả khác mấy khi Tập đoàn Samsung nói rằng, các doanh nghiệp VN chưa thể sản xuất nổi con ốc dùng cho linh kiện điện tử chủ yếu là điện thoại của họ. 

Bây giờ thực tế, nếu NHNN VN phá giá đồng bạc thêm 2%, đầu tiên là phản ứng của thị trường cổ phiếu bị bể, giá trị vốn hóa nhiều công ty VN sẽ bị bốc hơi và thiếu thanh khoản. Các nhà đầu tư quốc tế kể cả trong nước kéo tiền ra, doanh nghiệp dựa vào xuất khẩu yết giá trên TTCK bị kẹt kẹt vốn không có tiền. Thực tế mà nói các mặt hàng của VN xuất khẩu trên thế giới hiện nay còn bị cáo buộc bán phá giá chứ đừng nói là phá giá đồng nội tệ để bán rẻ hơn trước cho nước ngoài.


-----------------------------------------


Việc tính GDP này của VN cũng nên đặt lại như sau. Khi tính GDP như vậy, có lẽ VN tính gộp luôn giá trị nhà cửa bất động sản bán ế bỏ trống họ cũng tính vào GDP, đường xá mới xây bị lún, hay cầu bị và sửa lại, người ta cũng tính luôn vào giá trị GDP, sắt thép, xi măng hay xăng dầu tích trữ để bình ổn chưa dùng đến họ cũng tính vào GDP luôn. Thậm chí việc đốn chặt cây xanh tại Hà Nội, nhưng họ vẫn có thể tính vào GDP luôn không chừng....

Cần hiểu rằng, việc mở rộng GDP (tăng GDP) của một quốc gia là dấu hiệu cho thấy của một nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ, trong khi GDP co cụm lại, nó cho thấy một sự suy giảm trong nền kinh tế của một quốc gia. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng GDP dự kiến của một quốc gia có thể được sử dụng để xác định mức độ thích hợp của vấn đề nợ hoặc xác định nếu các công ty hoạt động trong nước có thể gặp vấn đề về tăng trưởng.

Các nhà đầu tư quốc tế thường đặt kỳ vọng một giá trị cao về ước tính GDP của quốc gia đó, bởi vì chúng ảnh hưởng đến gần như tất cả các phần của nền kinh tế của một quốc gia. Cụ thể, một mức tăng trưởng GDP cao thường được đi kèm với việc tăng lương, tỷ lệ thất nghiệp thấp, và mở rộng lợi nhuận doanh nghiệp, trong khi ngược lại là một GDP sút giảm, đó là một dấu hiệu xấu cho các nhà đầu tư tại một quốc gia, là dấu hiệu tiên báo đi kèm sự phá sản của nhiều doanh nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, tiền lương cắt giảm sức mua suy yếu. Mà sức mua của người dân VN hiện nay khá yếu mà một tờ báo lớn của VN gửi cho tôi e-mail để tìm hiểu cách thống kê và tính GDP của Mỹ.


------------------------------------


March 24, 2015

Phương Thơ(P3)

Cơ bản vẫn là: Vốn hóa thị trường: Vốn hóa thị trường là tổng giá trị thị trường chứng khoán của các công ty, hoặc giá cổ phiếu nhân với số lượng cổ phiếu lưu hành. Nôm na viết theo Anh ngữ là: 

TTCK VN cơ bản vẫn là: Market capitalization: Market cap is the total stock market value of the company, or the share price multiplied by the number of shares outstanding. Tức là: Vốn hóa thị trường là tổng giá trị thị trường chứng khoán của các công ty, hoặc giá cổ phiếu nhân với số lượng cổ phiếu lưu hành.

Về bối cảnh hồ sơ TTCK VN, thì người ta có thể đo lường kích thước của thị trường cổ phiếu ở "market capitalization", tức là nhân số cổ phiếu với giá niêm yết trên TTCK VN còn nhỏ mà thực tế nếu tính toán theo cung tiền M2, và đối chiếu với doanh thu các công ty niêm yết giá trên TTCK thì rõ ràng cổ phiếu các doanh nghiệp VN thực tế là dắt chứ không rẻ như người ta nói. Cho nên, TTCK VN luôn rơi vào vòng luẩn quẩn. Cụ thể, nếu thanh khoản tăng đột biến nhận một lượng tiền quá lớn chảy vào thì thổi lên bong bóng, khi rút ra ào ạt thì bỏng bể, thanh khoản sụt giảm thê thảm, và nhiều công ty lỗ lã nặng, ngân hàng thận trọng không dám cho vay, vì nợ xấu. Mà trái bóng căng quá thì sẽ xì. Nếu xì ra chầm chậm thì ta có hiện tượng gọi là “điều chỉnh” hay hạ cánh an toàn. Nếu xì ra thật mạnh trong khoảng thời gian ngắn, ta có nạn bể bóng. 

Cơ bản vẫn là các nhà đầu tư VN rất non tay, chẳng hạn, hễ nghe thông tin nhà đầu tư ngoại bán mạnh hay tháo vốn vì tin rằng giá cổ phiếu sẽ hạ nữa để nhảy vào bắt đáy nên các nhà đầu tư VN cũng bọc xuôi theo thị trường và cũng đầu tư vào cửa bán cùng nhà đầu tư ngoại quốc nên góp phần làm giá chứng khoán của họ hạ hơn nữa mà không thể xác định được đâu là cái đáy thấp nhất để đầu tư vào thị trường con Gấu và đâu là cái đỉnh cao nhất để nhận biết TTCK sẽ điều chỉnh (tức là TTCK có thể mất 10% giá trị trong nhiều ngày sụt giá).

Và bây giờ hết ai dám liều lĩnh "mua trên sự sợ hãi, bán vào sự tham lam" (buy on fear, sell on greed). Việc phân tích kỹ thuật là vô giá trị. Chỉ cần động thái "xả hàng" là TTCK VN đỏ rực.

-------------------

Câu hỏi xác đáng. Tôi hết sức thận trọng trả lời, không thôi người ta lại bảo là "thế lực thù địch"...bởi nó liên hệ lãi suất, tăng trưởng GDP, tỷ giá, doanh thu, cung tiền M2,...và nhiều thứ khác. Tuy nhiên bạn có thể theo dõi danh sách các tổng số mã cổ phiếu các doanh nghiệp VN niêm yết trên thị trường là có thể tính ra không quá khó lắm. Khi tính toán bạn phải trừ hao hụt đi, vì các công ty VN nổi tiếng là khai man sổ sách. Thí dụ đơn giản nhất, bạn có thể. giá cổ phiếu và mức tăng trưởng của tại sàn Apple Inc (Dow Jones, NASDAQ:AAPL) là ảnh đại diện của bạn với giá 166.13 USD/cổ phiếu, và doanh thu của nó tạo ra lợi nhuận rất ấn tượng. Dù P / E của nó rất cao là 22, nhưng dân trong nghề vẫn coi đó là rẻ. Ngược lại, P / E của các doanh nghiệp VN khá thấp, doanh thu đôi khi là âm và lỗ triền miên, hoặc có lời đi nữa khi chia ra lợi nhuận mà so với lãi suất dài hạn vẫn kém lời rõ ràng đó là đắt...

Và việc giải thích đến vẫn đề nhạy cảm là kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán nữa...

-------------------
Shirouto Toushika: Để tìm ra bong bóng tài sản (asset bubble), hay các tài sản độc hại (toxic assets), của TTCK VN là không khó lắm, tuy nhiên nó đụng vào vấn đề "nhạy cảm", liên quan đến vấn đề nội tại của kinh tế VN, nên tôi không giải thích vì sẽ tốn nhiều thống kê rất phức tạp. Đó chỉ là lý thuyết về dài hạn khi nền kinh tế và TTCK đi song hành thì thảm họa xẩy ra. Bởi vì trong ngắn hạn thị trường chứng khoán không phải là nền kinh tế và nền kinh tế không phải là thị trường chứng khoán. Bởi vì nền kinh tế là một cách xác định tất cả chúng ta làm, mua, bán và tiêu thụ. Thị trường chứng khoán là một phần của nền kinh tế, TTCK đại diện cho hầu hết các thành phần của các công ty lớn nhất và mạnh mẽ nhất có doanh thu lợi nhuận thì chứng khoán sẽ tăng, vì nếu nhà đầu tư tin rằng tác tác động vĩ mô về chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái nó không ảnh hưởng đến hướng kinh doanh của công ty, nên nhà đầu tư họ sẽ mua vào nhóm cổ phiếu đó và làm tăng giá chứng khoán.
-------------------

Đối với TTCK VN (nhiều người nói là sòng bạc cũng không sai chút nào) thì giá cổ phiếu được giao dịch hàng ngày được điều khiển bởi cung và cầu của người mua và người bán. Không giống như các nhà đầu tư dài hạn ở các TTCK khác, các nhà đầu tư ngắn hạn (đầu cơ) tại VN thường đặt cược vào sự thay đổi giá cả và trở về đúng hướng của nó bằng cách dựa vào biểu đồ phân tích kỹ thuật trong "biến động giá cả hàng ngày" (daily price swings). Nếu ra sàn giao dịch quan sát có lẽ đây là sở trường khai thác của nhà đầu tư VN. Nếu lấy thí dụ so sánh giá cả là "con sóng", là quan sát "đỉnh sóng" để ước đoán giá cổ phiếu nào sẽ lên tới cái đỉnh nào hay rơi xuống tới cái đáy sâu nào thì đảo chiều, từ cao trào đảo thành thoái trào hay ngược lại để mua và bán. Phân tích dựa vào biểu đồ kỹ thuật TTCK VN mà các tờ báo chuyên đề chứng khoán phân tích từ đầu năm đến nay như thống kê của tôi là sai đến 70%, các công ty chứng khoán phân tích còn tệ hơn, nhiều thân chủ nhà đầu tư cò con bỏ chạy và bỏ luôn trả tiền huê hồng môi giới cho công ty chứng khoán. 

Các nhà đầu tư VN đa số không phải là những nhà phân tích tài chính, hay kinh tế để phân tích chi tiết về lời lỗ khi biến động tỷ giá hối đoái. Giả sử tiền nội tệ VND của VN bất ngờ lên giá so với USD như là 20,000 VND đổi chác được 1 USD, ta sẽ thấy thanh khoản nhà đầu tư ngoại quốc sẽ ào ạt bơm theo nhiều ngõ, hoặc vào các quỹ đầu tư, dù rằng các chỉ số chứng của VN có sụt điểm. Ở bên kia đầu là nhà đầu tư nội là bán tháo rồi mong giá xuống để bắt đáy để kiếm lời thật nhanh (đánh cược, đánh bạc). Thật không may, trò chơi bắt đáy là không bao giờ bắt con dao đang rơi (never catch a falling knife) đã khiến nhiều nhà đầu tư VN "đứt tay", và lỗ nặng.

Tóm gọi lại là TTCK VN điều chỉnh mấy tháng nay là do tỷ giá đồng nội tệ VND bị mất giá. Chỉ số chứng khoán chính VN-Index tính từ đầu năm 2015 đến nay từ cái đỉnh 592,57 điểm đạt được vào tháng Hai năm 2015, nay rơi xuống còn 567.43 điểm do đông USD mạnh lên, đồng nội tệ VND bị giàng cái neo quá căng, có khi là bị đứt neo nên xẩy ra tâm lý bán chốt lời để hạn chế rủi ro là chính.

March 22, 2015

Chế độ đi Tu nghiệp sinh Nhật Bản

Người Việt Nam cùng một số nước khác đến làm việc tại Nhật Bản dưới dạng đi xuất khẩu lao động theo pháp luật của Nhật Bản được gọi là tu nghiệp sinh và thực tập sinh. 

Chế độ tu nghiệp sinh và thực tập sinh được chính phủ Nhật Bản sáng lập với mục đính đưa người nước ngoài sang đất nước Nhật Bản học hỏi kinh nghiệm khoa học kỹ thuật, kỹ năng của Nhật Bản đem về truyền bá và phục vụ đất nước, học hỏi đa ngành nghề, được phát triển dưới dạng chế độ tu nghiệp dành cho người nước ngoài, giao lưu quốc tế và cống hiến quốc tế.

Các cơ quan liên quan như: Công ty tiếp nhận, hiệp hội tiếp nhận, công ty xuất khẩu lao động các nước và các sở ban ngành Nhật Bản gồm: sở pháp vụ, sở ngoại giao, sở lao động, sở kinh tế, sở giao thông…Trong các sở liên ngành kết hợp và thiết lập nên cơ quan tổ chức hiệp lực pháp nhân tu nghiệp quốc tế có tên là JITCO trực tiếp chỉ đạo và điều hành.

Cơ quan JITCO trực tiếp chỉ đạo thực hành chế độ tu nghiệp sinh và thực tập sinh, hội thảo và trao đổi giải quyết các vấn đề lien quan. Khi xảy ra việc lien quan đến nhân quyền hay việc nhập quốc, tư cách lưu trú đều được hỗ trợ từ hiệp hội JITCO.



1. Mục đích chế độ

Chương trình gửi và nhận tu nghiệp sinh Việt Nam sang tu nghiệp tại các công ty Nhật Bản là nhằm mục đích tiếp thu kiến thức, khoa học kỹ thuật công nghệ cao của Nhật Bản. Sau khi về nước sẽ thực hiện chuyển giao kỹ thuật khoa học công nghệ cho đất nước, góp phần thúc đẩy phát triển đất nước. Ngoài ta cũng là cầu nối nhằm mục đích tăng cường hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau giữa Việt Nam và Nhật Bản.

2. Thời gian tu nghiệp

Thời hạn tu nghiệp kỹ thuật tại Nhật Bản là một năm, sau đó sẽ thi kỹ năng tại Nhật Bản. Dựa theo kết quả thi kỹ năng và công nhận của công ty tiếp nhận, nghiệp đoàn tiếp nhận cũng như hiệp hội quốc tế JITCO đánh giá thì sẽ được gia hạn tiếp năm tiếp theo

(Mỗi lần gia hạn không quá một năm.)

3. Thời hạn cư trú.

Sau khi nhận được kết quả kỳ thi đạt kết quả tốt và sự đồng ý của cơ quan phái cử Việt Nam, công ty tiếp nhận Nhật Bản, nghiệp đoàn tiếp nhận Nhật Bản cùng với sự đánh giá và nhận xét của tổ chức hợp tác quốc tế JITCO thì tu nghiệp sinh sẽ chuyển sang giai đoạn thực hành kỹ thuật và những thực tập sinh này sẽ được gia hạn năm tiếp theo, tổng số thời gian ở Nhật Bản không quá 3 năm.

4. Phương thức và kế hoạch tu nghiệp.

Sẽ được tiến hành theo kế hoạch tu nghiệp do công ty tiếp nhận Nhật Bản đặt ra.
Chương trình tu nghiệp tại Nhật Bản bao gồm phần tu nghiệp phi kỹ thuật và tu nghiệp kỹ thuật, việc phân chia tỷ lệ thời gian sẽ tuân thủ theo luật pháp Nhật Bản.
Nghiệp đoàn tiếp nhận Nhật Bản sẽ thực hiện một phần của chương trình tu nghiệp phi kỹ thuật còn công ty tiếp nhận tu nghiệp sinh sẽ thực hiện một phần tu nghiệp phi kỹ thuật và chương trình tu nghiệp kỹ thuật.

5. Quyền lợi của tu nghiệp sinh.

Theo quy đinh của điều 24 luật lao động Nhật Bản, trong thời gian tu nghiệp công ty tiếp nhận sẽ trả trực tiếp cho tu nghiệp sinh tiền trợ cấp tu nghiệp hàng tháng vào một ngày quy định trong tháng tiền trợ cấp để tu nghiệp sinh duy trì mức sống như một công dân Nhật bình thường.

Trong trường hợp phát sinh chi phí đi lại vì công việc trong Nhật Bản thì tu nghiệp sinh sẽ được trả một khoản bằng chi phí đi lại ngoài số tiền trợ cấp đó.
Trong thời gian tu nghiệp phía công ty tiếp nhận hoặc hiệp hội tiếp nhận phải có trách nhiệm cung cấp miễn phí cho tu nghiệp sinh chổ ở, thiết bị phục vụ cuộc sống thông thường, nơi ở phải đảm bảo sức khỏe và phù hợp với điều kiện khí hậu .Trong trường hợp tu nghiệp sinh tự nấu ăn thì công ty tiếp nhận hoặc hiệp hội tiếp nhận phải cho mượn miễn phí các thiết bị cho tu nghiệp sinh các dụng cụ thiết yếu cho cuộc sống.

6. Trợ cấp tu nghiệp

Công ty tiếp nhận phải chi trả tiền trợ cấp hàng tháng cho mỗi tu nghiệp sinh là 64,000Yên / tháng (bao gồm cả tiền ăn).
Tu nghiệp sinh được chu cấp phần tiền học phí để học tiếng nhật trong thời học giáo dục định hướng trước khi xuất cảnh.
Thời gian tu nghiệp 1 tuần làm trong vòng 40 giờ, một ngày làm việc 8 tiếng.

Ngày nghỉ của tu nghiệp sinh tuân theo chế độ nghỉ của công ty tiếp nhận, sẽ được nghỉ một ngày trong tuần, không nhất định là ngày chủ nhật.
Năm thứ nhất được hiệp hội tiếp nhận tham gia đóng bảo hiểm tu nghiệp để phục vụ cho khi gặp sự cố,khi đau ốm bệnh tật.
Năm thứ hai trở đi thì công ty tiếp nhận sẽ đóng nộp bảo hiểm xã hội tương đương với một xã viên của công ty.

7. Trách nhiệm của tu nghiệp sinh

Trong quá trình tu nghiệp tại Nhật Bản, tu nghiệp sinh phải thực hiện các nghĩa vụ sau:
- Tu nghiệp sinh phải tham gia chương trình tu nghiệp một cách nghiêm túc theo kế hoạch tu nghiệp, không được tự rời bỏ công ty tiếp nhận, trộm cắp, làm trái pháp luật.

- Sau khi về nước tu nghiệp sinh phải quay lại nơi làm việc cũ, đem những kiến thức đã học hỏi tại Nhật Bản góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước.

- Trong thời gian Tu nghiệp, không được phép gọi gia đình, người thân, sang sống cùng .

- Trong thời gian tu nghiệp tu nghiệp sinh không được phép về nước.

- Trong thời hạn tu nghiệp tại Nhật Bản, tu nghiệp sinh không được phép tham gia các hoạt động chính trị, tôn giáo hoặc lấy vợ lấy chồng hay các hoạt động kinh tế khác.

- Trong thời gian tu nghiệp tu nghiệp sinh không được vi phạm các điều luật Nhật Bản, những quy định của nghiệp đoàn và công ty tiếp nhận.

- Sau khi kết thúc chương trình tu nghiệp tại Nhật Bản tu nghiệp sinh phải trở về nước đúng thời hạn.


8. Đình chỉ tu nghiệp

Khi tu nghiệp sinh vi phạm hợp đồng, công ty và nghiệp đoàn tiếp nhận không tha thứ cho hành vi đó, sẽ liên lạc với công ty phái cử Việt Nam can thiệp và giải quyết. Nếu tu nghiệp sinh bị buộc về nước thì các kinh phí liên quan đến cá nhân tu nghiệp sinh sẽ phải chịu và chi trả.

LINK: huongnghiepnhatban.com/tin-tuc-xkld/286-che-do-di-tu-nghiep-sinh-nhat-ban.html

March 18, 2015

Những món đặc sản ngay cả người Nhật cũng sợ



Người Nhật nổi tiếng với khẩu vị đặc biệt và không ngại thử những món lạ, nhưng có những món đặc sản chính họ cũng phải lấy hết cam đảm mới dám ăn.

Sushi côn trùng: Thay vì thịt cá như thông thường, món sushi này được dùng kèm với gián, sâu và các loại ấu trùng khác. Ảnh: MSN.

Hachinoko (ấu trùng ong): Ấu trùng ong được xào với xì dầu và đường. Nhiều người nhận xét món này khá ngon, nhưng hình dạng của chúng đủ khiến nhiều người chết khiếp. Ảnh: CNNGo.

Sanshouo (kỳ giông): Kỳ giông khổng lồ từng xuất hiện trong những cuốn sách dạy nấu ăn từ thế kỷ 17 của Nhật. Nhưng ngày nay chúng là loài được bảo tồn, việc chế biến và thưởng thức một con kỳ nhông có thể khiến bạn phải vào tù. Ảnh: Akb-news.

Ngày nay, bạn có thể thưởng thức một giống kỳ giông khác ít quý hiếm hơn. Ảnh: Akb-news.

Kusaya (cá thối): Những người không chịu nổi món đậu thối Natto có lẽ phải đeo mặt nạ với món này. Bề ngoài của món Kusaya khá bình thường, hơi giống cá hồi hun khói. Nhưng khi ăn, có lẽ bạn sẽ phải chạy thẳng vào nhà vệ sinh. Đây là món ăn truyền thống của đảo Izu, trong đó người dân dùng nhiều loại cá trong nước biển, để chúng lên men trong vài ngày. Tuy nhiên, loại nước này được dùng đi dùng lại, từ năm này qua năm khác, khiến cá có một mùi vị không thể đặc biệt hơn. Ảnh: CNNGo.

Shiokara (hải sản lên men): Món ăn nặng mùi này của Nhật được làm từ các loại hải sản như mực được để tự lên men. Thường những người dám ăn món này phải uống thêm rượu. Ảnh: Telegraph.

Shiro no odorigui (cá nhảy múa): Về cơ bản đây là món cá sống. Những con cá nhỏ sẽ giãy giụa trong miệng khi bạn ăn, chính vì thế món này mới có tên “shiro no odorigui”, nghĩa là “cá nhảy múa”. Ảnh: Wikipedia.



Shirako (tinh hoàn cá tuyết): Món này thường được ăn sống, tuy nhiên vị và hình dạng của nó không dễ chịu gì cho lắm. Người Nhật cho rằng shirako rất tốt cho chuyện phòng the của nam giới. Ảnh: Gourmettravelle.

1001 yếu tố ảnh hưởng đến giá chứng khoán


Dưới đây là một số yếu tố tác động đến giá cổ phiếu, mà hầu như ai cũng từng trải nghiệm đau đớn ngoài ý muốn trước khi trở thành triệu phú USD.


Những nhà đầu tư cổ phiếu giàu kinh nghiệm có thể kiếm tiền bằng cách nhảy vào, nhảy ra và mua giá thấp bán giá cao. Đấy là trường hợp lý tưởng trong đầu tư cổ phiếu. Tuy nhiên, trên thực tế, đầu tư cổ phiếu là công việc rất khó khăn và phải gánh chịu nhiều rủi ro. Có những rủi ro bạn có thể kiểm soát được, nhưng cũng có những rủi ro ngoài tầm kiểm soát, chẳng hạn như khi thị trường đảo chiều.

Dưới đây là một số yếu tố tác động đến giá cổ phiếu, mà hầu như ai cũng từng trải nghiệm đau đớn ngoài ý muốn trước khi trở thành triệu phú USD.

1. Cung và cầu (Điều cơ bản nhất mà nhà đầu tư nào cũng phải biết)

Giá cổ phiếu được quyết định bởi cung và cầu, cho nên, có thể nói cung cầu là một “kẻ cai trị tàn bạo” của thị trường chứng khoán. Cổ phiếu hấp dẫn có nhiều người mua hơn người bán thì giá tăng lên, trong khi cổ phiếu kém hấp dẫn thì ngược lại.

Giống như bất kỳ thị trường nào khác, nơi có người mua nhiều hơn người bán thì giá cả sẽ tăng lên, cho đến khi các nhà đầu tư chuyên nghiệp bắt đầu rút tiền ra khỏi thị trường và giá trị mua bán cổ phiếu bị giảm xuống.

Cũng cần thận trọng trong trường hợp nhu cầu cao còn nguồn cung thì thấp, và kết quả là giá cả tăng lên kèm theo cái bẫy thanh khoản. Đó là một con dao hai lưỡi, dễ tác động và thay đổi tâm lý nhà đầu tư, dẫn đến giá cổ phiếu đảo chiều sụt giảm rất nặng.

2. IPO (Phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng)

Các đợt IPO thành công sẽ thúc đẩy đà tăng cho thị trường chứng khoán, ngược lại, một đợt IPO thất bại có thể sẽ tác động tiêu cực dây chuyền.

Theo thống kê và kinh nghiệm, thông thường nên tránh IPO vào quý cuối cùng trong năm, vì nhà đầu tư có thể chưa thoát khỏi các khoản đầu tư bị kẹt, kém lợi nhuận. IPO thường sôi động và thuận lợi vào quý 1 đầu năm hoặc hết quý 2.

Nên thận trọng với các đợt IPO của các công ty nhỏ, đó là các công ty "làm mới" lại giá trị cổ phiếu, thực chất mang yếu tố đầu cơ.

3. Standard & Poor’s và nợ công

Trên thế giới có 3 công ty xếp hạng tín nhiệm lớn gồm Standard & Poor’s, Moody's và Fitch Ratings kiểm soát hơn 95% thị trường trái phiếu thế giới, trong đó ảnh hưởng nhất là hãng Standard & Poor’s, chuyên đánh giá về nợ công các quốc gia.

Thật không may cho thị trường chứng khoán nào bị "trúng tên lửa" của Standard & Poor’s, khi họ bất ngờ hạ bậc trái phiếu dài hạn của quốc gia vì nguy cơ vỡ nợ công. Một đợt tụt dốc của giá cổ phiếu có thể làm "bốc khói" xóa sạch lợi nhuận mà nhà đầu tư đã tích lũy trong nhiều tháng chỉ trong 1 hoặc 2 phiên.

4. Hốt hoảng gây ra khủng hoảng

Yếu tố tâm lý bầy đàn (herd mentality) thường dẫn đến hiện tượng "Sợ hãi làm cho các nhà đầu tư nhảy ra khỏi thị trường (bán thấp) - Fear makes investors jump out of the market (selling low)", gây ra sự giảm sàn ở nhiều cổ phiếu. Kể cả các cổ phiếu có kết quả kinh doanh tốt cũng không miễn nhiễm được sự sụt giảm bởi tâm lý bầy đàn vì không tìm được lực mua do nhà đầu tư e ngại đứng ngoài.

Lý do có thể xuất phát từ tâm lý lo ngại do nguy cơ chiến tranh, khủng bố, và quan trọng nhất đó là việc bắt giam những nhà đầu tư lũng đoạn thị trường tài chính và cổ phiếu, chẳng hạn như bán khống (short-sell).

(Còn tiếp)

Phạm Quốc Hoàng - William D. Dudley