Showing posts with label Phạm Quốc Hoàng. Show all posts
Showing posts with label Phạm Quốc Hoàng. Show all posts

April 11, 2015

Tiền chảy vào đâu khi Fed nâng lãi suất?


Tiền chảy vào đâu khi Fed nâng lãi suất?
Fed sẽ làm thế nào để thu hồi về hơn 4,000 tỷ USD trong gói kích thích bơm vào nền kinh tế Mỹ? Đâu là rủi ro và cơ hội cho giới đầu tư khi Fed nâng lãi suất "Fed Funds Rate" trong thời gian tới?


Để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng nhất kể từ thời kỳ Đại suy thoái thập niên 1930, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã lần lượt tung ra các gói Nới lỏng định lượng QE1 (tháng 12/2008), QE2 (tháng 11/2010 - tháng 6/2011) và QE3 (tháng 9/2012).

Bây giờ, Fed sẽ làm gì sau nhiều năm giữ vai trò vừa là "người phóng hỏa" vừa kiêm luôn vai trò là "sở cứu hỏa". Fed sẽ làm thế nào để thu hồi về hơn 4,000 tỷ USD trong gói kích thích bơm vào nền kinh tế Mỹ? Đâu là rủi ro và cơ hội cho giới đầu tư khi Fed nâng lãi suất "Fed Funds Rate" trong thời gian tới?

1. Rủi ro tỷ giá khi Mỹ nâng lãi suất

Lần đầu tiên sau gần một thập niên, kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng suy thoái (recession), tức là tăng trưởng chậm hơn trong hai quý liền từ tháng 12/2007. Một trong những nguyên nhân là sự đình trệ của thị trường nhà đất tại Mỹ từ năm 2006 và nạn bể bóng tín dụng thứ cấp sau đó. Khi ấy, từ tháng 6/2006 đến tháng 12/2007, Fed đã hạ lãi suất ngắn hạn từ 5.25% xuống còn 4.25% (giảm 4 lần bắt đầu vào tháng 8); và từ tháng 10/2008, liên tục hạ lãi suất ngắn hạn xuống 1%. Đến ngày 16/12/2008, lãi suất còn được hạ tới mức cực thấp là từ 0% đến 0.25%.

Các nhà đầu tư cần hết sức thận trọng phân biệt các loại lãi suất tại Mỹ, đó là lãi suất ngắn hạn và dài hạn, để tính toán rủi ro khi đầu tư vào tiền tệ hay cổ phiếu cũng như trong sản xuất kinh doanh.

Lãi suất ngắn hạn thì do Fed, tức là Ngân hàng Trung ương Mỹ quyết định. Đây là lãi suất cơ bản, thường được gọi là "Fed Funds Rate", là cơ sở để các ngân hàng và doanh nghiệp tài chính tính toán cho khách hàng của mình. Khi tăng hay hạ lãi suất ấy, Fed gián tiếp tác động vào tiêu dùng hay đầu tư sản xuất tại Mỹ cũng như các thị trường khác trên thế giới, trong đó Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Hiện nay, Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) vẫn duy trì lãi suất ngắn hạn từ 0.25%. Trong quá khứ, lãi suất cơ bản của Mỹ có lúc lên đến 20% vào những năm 1980-1981. Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997, lãi suất cơ bản của Mỹ là 5.5%, giai đoạn bong bóng Dot-com bị vỡ thì Fed Funds Rate là 6.6%.

Trong khi đó, lãi suất cho vay dài hạn tại Mỹ được thả nổi cho thị trường quyết định theo các tiêu chuẩn cung cầu, lợi suất trái phiếu và mức an toàn, tức là khả năng hoán đổi trái phiếu (tờ giấy nợ) ra thành tiền mặt nhanh chóng. Bởi lẽ, nếu đồng USD mạnh lên sẽ tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của các quỹ trái phiếu quốc tế (vì giá trị của các loại ngoại tệ giảm). Đồng USD là một nơi trú ẩn an toàn trong bất kỳ cuộc khủng hoảng toàn cầu nào. Điều đó có nghĩa là nhà đầu tư mua trái phiếu Mỹ để tránh rủi ro khi kinh tế Mỹ phục hồi từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

Chi tiết rất chú ý và đáng ngại là hơn 85% các giao dịch ngoại hối liên quan đến đồng USD. Hơn nữa, khoảng 39.7% nợ của thế giới được phát hành bằng đồng USD. Kết quả là các thị trường tài chính, các ngân hàng nước ngoài cần rất nhiều USD để giao dịch cũng như thanh toán nợ nần. Dự trữ ngoại tệ của ngân hàng trung ương các nước trên thế giới có đến 61% bằng USD.

Thực tế là đồng USD chưa cần tăng giá mà chủ yếu các đồng tiền mạnh khác như đồng EUR, đồng JPY (Nhật)... bị sụt giá so với đồng USD, thì giới đầu tư trên thế giới đã ào ạt bán các khoản nợ bằng nội tệ để mua USD để đầu tư vào Mỹ, và đang gây thêm biến động cho thị trường tài chính và chứng khoán của nhiều nước trên thế giới. Đối với những nước đi vay bằng đồng USD mà tài trợ lãi bằng đồng nội tệ hay vay ngắn hạn bằng đồng USD để tài trợ các dự án dài hạn, khi đồng USD tăng giá thì các khoản vay mượn sẽ đắt hơn.

Thị trường chứng khoán Việt Nam cũng đã bị ảnh hưởng ít nhiều từ động thái bán tháo liên tục của nhà đầu tư nước ngoài, khiến cổ phiếu rớt giá và thanh khoản cũng sụt theo chỉ trong một tuần giao dịch cuối tháng 3/2015. Lý do là vì giới đầu tư muốn đầu tư vào trái phiếu của Mỹ (và bán tháo cổ phiếu các công ty Mỹ dựa vào xuất khẩu do đồng USD tăng giá).

2. Rủi ro dòng vốn khi châu Âu duy trì lãi suất âm và in tiền qua QE

Ngày 22/01/2015, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tuyên bố họ sẽ bắt đầu mua 60 tỷ EUR trái phiếu bằng đồng EUR mỗi tháng kể từ tháng 3. Đồng EUR ngay lập tức giảm giá. Nếu tại châu Âu, tiền nhiều và đi vay dễ thì trị giá trái phiếu sẽ tăng mà lợi suất lại giảm.

Quyết định đó của ECB đã gây chấn động cho các thị trường tài chính toàn cầu, gây áp lực lên giá trái phiếu. Trong khi đó, việc này lại khuyến khích nhà đầu tư dồn tiền trở lại để đầu tư vào cổ phiếu, kéo theo đà tăng giá chứng khoán của các nước Liên minh châu Âu (EU). Cụ thể, DAX - chỉ số thị trường chứng khoán đại diện cho khoảng 80% giá trị vốn hóa thị trường niêm yết ở Đức - chạm mức cao nhất mọi thời đại tại 12,167.72 điểm trong tháng 3/2015, chỉ số CAC 40 của Pháp cũng tăng lên 5,034.06 điểm trong tháng 3 từ mức thấp nhất trong tháng 02/2015 là 4,951.48 điểm. Dù vậy, đây chưa phải là đỉnh cao nhất mọi thời đại của CAC 40. Được biết, chỉ số này đã xác lập mức cao nhất từ trước đến nay tại 6,922.33 điểm vào tháng 9/2000 và giới đầu tư dự đoán nó sẽ phá đỉnh năm 2000,...

Chi tiết đáng chú ý, khi đồng EUR trượt giá thì các nhà đầu tư từ Mỹ, Trung Quốc và một số nước có dự trữ lớn ngoại hối bằng đồng USD sẽ nhân cơ hội đầu tư thẳng vào các doanh nghiệp châu Âu, hoặc bỏ tiền mua đứt các doanh nghiệp hoặc qua các thương vụ M&A. Cụ thể mới đây Tập đoàn Hóa chất Quốc gia Trung Quốc (ChemChina) chi 7.7 tỷ USD thâu tóm một công ty lốp châu Âu là hãng sản xuất lốp xe Pirelli của Italy,...

3. Rủi ro giá vàng khi lãi suất ngắn hạn tại Mỹ tăng

Ít có gì lại có sức quyến rũ sáng chói như vàng, nhất là trong thời buổi kinh tế khó khăn đầy biến động. Cũng có lắm cơ hội để đầu tư, và vàng được xem như là một loại tài sản để chống lại xói mòn đồng bạc, vì tiền được in ra quá nhiều trên thế giới, trừ trường hợp của Mỹ là đang thu hồi lượng tiền bơm ra.

Về mặt quy luật kinh tế, ngược với lý luận của nhiều người, không phải giá vàng đã chi phối trị giá đồng USD mà trái lại, tỷ giá đồng USD mới ảnh hưởng đến giá vàng. Giá vàng thường tăng giảm ngược chiều với đồng USD.

Giá vàng là một chỉ số theo dõi tốt về sức khỏe nền kinh tế Mỹ. Khi giá vàng cao, đó là khi nền kinh tế Mỹ không lành mạnh. Tại sao vậy? Nhà đầu tư đổ xô đầu tư vào vàng khi họ muốn bảo vệ các khoản đầu tư tránh khỏi ảnh hưởng từ khủng hoảng hay lạm phát. Khi giá vàng giảm, thường có nghĩa là nền kinh tế Mỹ đang lành mạnh. Đó là bởi vì nhà đầu tư giàu kinh nghiệm đã bán vàng để tìm kiếm các khoản đầu tư sinh lời hấp dẫn hơn, như là đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu hay bất động sản...

Trong quá khứ, vào ngày 05/9/2011, vàng đạt mức cao nhất mọi thời đại là 1,895 USD/oz. Lý do xuất phát từ báo cáo việc làm yếu kém tại Mỹ cũng như cuộc khủng hoảng nợ chồng chất tại khu vực đồng EUR và khủng hoảng trần nợ công của Mỹ.

Theo một báo cáo nghiên cứu từ Trinity College, tất cả nhà đầu tư lão làng giàu kinh nghiệm đều phải có ít nhất một số vàng trong danh mục. Báo cáo cho thấy lý do tốt nhất để mua vàng là xem kim loại quý như một hàng rào chống lại sự sụp đổ tiềm năng của thị trường chứng khoán.

Có thể lấy mức 1,300 USD/oz làm điểm cản và 1,200 USD/oz làm điểm hỗ trợ của giá vàng hiện nay (dù giá vàng có thấp hơn điểm hỗ trợ này). Giới đầu tư dự đoán nếu đến mùa Thu năm nay, khi Fed nâng lãi suất mà giá vàng vượt qua được điểm chặn 1,300 USD/oz thì vàng sẽ vọt lên 1,620 USD/oz, ngược lại nếu cứ chập chờn quanh điểm hỗ trợ 1,200 USD/oz thì theo dự đoán George Soros đã nói xưa kia: "Vàng là bong bóng cuối cùng" và sẽ tuột dưới 1,000 USD/oz.

4. Rủi ro cũng như cơ hội của thị trường chứng khoán Việt Nam

Khi đồng USD tăng giá, giới tiêu dùng và các nhà nhập khẩu Mỹ cũng như các nước có đồng nội tệ mạnh sẽ nhân cơ hội này mà chi tiêu, nhập khẩu các mặt hàng của các nước dựa vào xuất khẩu có đồng nội tệ bị suy yếu, trong đó cơ hội đang thuộc về doanh nghiệp Việt Nam trong các lĩnh vực như thủy sản, đồ gỗ, hàng tiêu dùng,...

Đối với thị trường chứng khoán, cơ bản vẫn là việc "mở room" cho các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ cổ phần, kể cả 100% cho một số lĩnh vực mà mới đây Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước công bố. Nếu điều này diễn ra thì trên thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ sớm xuất hiện nhiều đại công ty có tầm vóc quốc tế như trường hợp của Vinamilk (HOSE: VNM).

Trái với nhận định bi quan về thị trường cổ phiếu Việt Nam, nếu trong mùa Thu năm 2015, khi Fed tăng lãi suất ngắn hạn, theo nhận định của chiến lược gia phân tích tài chính toàn cầu Roger Nightingale tại Pointon York cho hay, các dòng vốn đầy tiềm năng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Mỹ sẽ chảy lại các thị trường mới nổi, trong đó có thị trường chứng khoán Việt Nam. Nguồn vốn FDI cũng sẽ rất lớn, bởi lẽ một trong những công cụ tốt nhất một quốc gia có thể sử dụng để khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài là các hiệp định thương mại tự do, mà Việt Nam sẽ ký kết trong năm 2015 này.

Tuy nhiên, thông thường để thu hút FDI hay cả vốn "tiền nóng" trên thị trường chứng khoán của giới đầu tư nước ngoài nhiều hơn nữa, thì mặt bằng lãi suất của Việt Nam phải duy trì thấp. Mặc dù điều này làm tăng lạm phát nhưng nó lại giúp kinh tế tăng trưởng mạnh hơn.

Phạm Quốc Hoàng - William D. Dudley

March 18, 2015

1001 yếu tố ảnh hưởng đến giá chứng khoán


Dưới đây là một số yếu tố tác động đến giá cổ phiếu, mà hầu như ai cũng từng trải nghiệm đau đớn ngoài ý muốn trước khi trở thành triệu phú USD.


Những nhà đầu tư cổ phiếu giàu kinh nghiệm có thể kiếm tiền bằng cách nhảy vào, nhảy ra và mua giá thấp bán giá cao. Đấy là trường hợp lý tưởng trong đầu tư cổ phiếu. Tuy nhiên, trên thực tế, đầu tư cổ phiếu là công việc rất khó khăn và phải gánh chịu nhiều rủi ro. Có những rủi ro bạn có thể kiểm soát được, nhưng cũng có những rủi ro ngoài tầm kiểm soát, chẳng hạn như khi thị trường đảo chiều.

Dưới đây là một số yếu tố tác động đến giá cổ phiếu, mà hầu như ai cũng từng trải nghiệm đau đớn ngoài ý muốn trước khi trở thành triệu phú USD.

1. Cung và cầu (Điều cơ bản nhất mà nhà đầu tư nào cũng phải biết)

Giá cổ phiếu được quyết định bởi cung và cầu, cho nên, có thể nói cung cầu là một “kẻ cai trị tàn bạo” của thị trường chứng khoán. Cổ phiếu hấp dẫn có nhiều người mua hơn người bán thì giá tăng lên, trong khi cổ phiếu kém hấp dẫn thì ngược lại.

Giống như bất kỳ thị trường nào khác, nơi có người mua nhiều hơn người bán thì giá cả sẽ tăng lên, cho đến khi các nhà đầu tư chuyên nghiệp bắt đầu rút tiền ra khỏi thị trường và giá trị mua bán cổ phiếu bị giảm xuống.

Cũng cần thận trọng trong trường hợp nhu cầu cao còn nguồn cung thì thấp, và kết quả là giá cả tăng lên kèm theo cái bẫy thanh khoản. Đó là một con dao hai lưỡi, dễ tác động và thay đổi tâm lý nhà đầu tư, dẫn đến giá cổ phiếu đảo chiều sụt giảm rất nặng.

2. IPO (Phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng)

Các đợt IPO thành công sẽ thúc đẩy đà tăng cho thị trường chứng khoán, ngược lại, một đợt IPO thất bại có thể sẽ tác động tiêu cực dây chuyền.

Theo thống kê và kinh nghiệm, thông thường nên tránh IPO vào quý cuối cùng trong năm, vì nhà đầu tư có thể chưa thoát khỏi các khoản đầu tư bị kẹt, kém lợi nhuận. IPO thường sôi động và thuận lợi vào quý 1 đầu năm hoặc hết quý 2.

Nên thận trọng với các đợt IPO của các công ty nhỏ, đó là các công ty "làm mới" lại giá trị cổ phiếu, thực chất mang yếu tố đầu cơ.

3. Standard & Poor’s và nợ công

Trên thế giới có 3 công ty xếp hạng tín nhiệm lớn gồm Standard & Poor’s, Moody's và Fitch Ratings kiểm soát hơn 95% thị trường trái phiếu thế giới, trong đó ảnh hưởng nhất là hãng Standard & Poor’s, chuyên đánh giá về nợ công các quốc gia.

Thật không may cho thị trường chứng khoán nào bị "trúng tên lửa" của Standard & Poor’s, khi họ bất ngờ hạ bậc trái phiếu dài hạn của quốc gia vì nguy cơ vỡ nợ công. Một đợt tụt dốc của giá cổ phiếu có thể làm "bốc khói" xóa sạch lợi nhuận mà nhà đầu tư đã tích lũy trong nhiều tháng chỉ trong 1 hoặc 2 phiên.

4. Hốt hoảng gây ra khủng hoảng

Yếu tố tâm lý bầy đàn (herd mentality) thường dẫn đến hiện tượng "Sợ hãi làm cho các nhà đầu tư nhảy ra khỏi thị trường (bán thấp) - Fear makes investors jump out of the market (selling low)", gây ra sự giảm sàn ở nhiều cổ phiếu. Kể cả các cổ phiếu có kết quả kinh doanh tốt cũng không miễn nhiễm được sự sụt giảm bởi tâm lý bầy đàn vì không tìm được lực mua do nhà đầu tư e ngại đứng ngoài.

Lý do có thể xuất phát từ tâm lý lo ngại do nguy cơ chiến tranh, khủng bố, và quan trọng nhất đó là việc bắt giam những nhà đầu tư lũng đoạn thị trường tài chính và cổ phiếu, chẳng hạn như bán khống (short-sell).

(Còn tiếp)

Phạm Quốc Hoàng - William D. Dudley

Lạm phát thấp: Mừng hay lo?


Bây giờ cần phải khôi phục niềm tin giới tiêu dùng, thay vì lạc quan vì lạm phát thấp.

Tổng cục Thống kê vừa công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2014 tăng 0.11% so với tháng trước và tăng 3.23% so với cùng kỳ năm trước. So với đầu năm, CPI tháng 10 chỉ tăng 2.36%, mức tăng thấp nhất trong vòng 11 năm qua. Lạm phát cơ bản (so với cùng kỳ) ở mức 3.09% trong tháng 10/2014 tiếp tục xu hướng giảm kể từ đầu năm.

Điều này là nên mừng hay lo? Thực tế, có lý do để lo lắng về những gì đang xảy ra.

Cựu Chủ tịch Fed, Ben S. Bernanke từng cảnh báo rằng: "Lạm phát thấp là không tốt cho nền kinh tế vì lạm phát rất thấp làm tăng nguy cơ giảm phát, mà có thể gây ra trì trệ cho nền kinh tế" (Nguyên văn: Low inflation is not good for the economy because very low inflation increases the risks of deflation, which can cause an economy to stagnate). Hiện nay, cả châu Âu và Nhật Bản đang phải hứng chịu nạn giảm phát còn nguy hiểm hơn cả lạm phát. Một tỷ lệ lạm phát thấp thường đi kèm với kịch bản tăng trưởng trì trệ, mà có thể nền kinh tế Việt Nam đang gặp phải.

Tại cuộc họp báo ngày 6/10/2014 về Báo cáo cập nhật khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ước tính khoảng đạt 5.4% trong năm nay và khó có thể vượt qua mức 5.5% trước năm 2016. Đó là mức tăng trưởng dưới tiềm năng đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam.

Với mức tăng trưởng kinh tế hiện tại thấp hơn nhiều so với các năm trước, kinh tế Việt Nam có thể đang ở trong giai đoạn mà kinh tế gọi là "disinflation" (thiểu phát), tức là ở giữa hai trường hợp lạm phát và giảm phát. Đó và dấu hiệu của sự xoay chuyển từ lạm phát qua giảm phát (Việt Nam chưa rơi vào giảm phát), là khi đà tăng trưởng sản xuất sút giảm liên tục đi cùng nạn lạm phát, mà dẫn đến hiện tượng trong kinh tế gọi là "suy phát" (stagflation), tức là sản xuất trì trệ đình đốn mà vẫn bị cái bóng của lạm phát đe dọa mà có thể gọi là "lạm phát niềm tin do tâm lý".

Lý do là khi người tiêu dùng thấy hàng hóa có vẻ giảm giá liên tục thì có xu hướng chờ đợi, tạm hoãn mua để chờ giá sẽ giảm hơn nữa. Khi người tiêu dùng chần chừ mua như vậy thì nhà sản xuất bị tồn kho ế ẩm và khi kéo dài thì đến hạn trả nợ ngân hàng nên phải tìm cách bán tháo, có nghĩa là muốn bán còn rẻ hơn nữa. Và dẫn đến hậu quả là cả nhà sản xuất, tức doanh nghiệp, và người tiêu thụ đều “tắc”, khiến kinh tế tuy không "suy trầm" (recession) vì tăng trưởng thấp mà có thể sẽ bị "depression" (suy thoái), là không tăng nữa mà còn giảm.

Hiện nay, các ngân hàng thương mại liên tục hạ lãi suất thấp. Đó là điều tốt, nhưng khi tiền bơm ra lại không đẩy mạnh được vào đầu tư cho sản xuất, và ngân hàng dư thanh khoản vì thiếu doanh nghiệp và người dân đi vay để đưa tiền vào kinh tế, dẫn đến nạn ách tắc thanh khoản, nên các ngân hàng lại đem tiền mua trái phiếu làm nơi trú ẩn an toàn để kiếm lãi. Gặp trường hợp này có thể là vì giới tiêu dùng và các nhà sản xuất vẫn chưa thấy một tín hiệu tin tưởng vì thiếu niềm tin. Cho nên, bây giờ cần phải khôi phục niềm tin giới tiêu dùng, thay vì lạc quan vì lạm phát thấp.

Phạm Quốc Hoàng - William D. Dudle

Giải mã tâm lý bầy đàn trên thị trường chứng khoán


Tâm lý bầy đàn (herd mentality) là chất kích thích "doping" cho thị trường chứng khoán, khiến thị trường này rơi xuống một đáy mới hay xác lập một đỉnh cao hơn.

Một đợt sụp đổ của thị trường chứng khoán là mỗi khi thị trường mất hơn 10% trong một hoặc hai phiên giao dịch. Điều này khác biệt với một đợt điều chỉnh khi thị trường mất 10% hoặc ít hơn trong giai đoạn nhiều ngày.

Đợt điều chỉnh của thị trường có thể bắt nguồn từ một số sự kiện tạo ra sự sợ hãi và bán hoảng loạn liên tục. Đó là sự điên cuồng của sự tham lam rồi quay sang hoảng loạn sợ hãi, và nhà đầu tư bán ra bằng mọi giá. Sự sụp đổ giá chứng khoán này có thể lây lan sang các loại tài sản khác và cuối cùng là toàn bộ nền kinh tế.

May mắn thay, nhà đầu tư không cần phải là một nhà kinh tế hoặc nhà phân tích thị trường chứng khoán để có thể cảm nhận được những gì đang xảy ra do tâm lý bầy đàn. Tuy nhiên, các nhà đầu tư phải hiểu rằng, nền kinh tế và thị trường chứng khoán là hai lực lượng khác nhau trong ngắn hạn. Thị trường chứng khoán vẫn có thể tăng điểm mạnh mẽ bất chấp tin tức nền kinh tế bất ổn, vì các nhà đầu tư lớn thường đặt cược vào tương lai. Vì tin rằng đó chỉ là tâm lý bầy đàn nên họ sẽ mua vào làm tăng giá cổ phiếu, khiến nhiều người lỡ bán lại tiếc rẻ.

Thị trường chứng khoán có thể di chuyển nhanh chóng trong hai hướng tăng giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, điển hình như cung và cầu của người mua và người bán. Không giống như các nhà đầu tư dài hạn, nhà đầu tư ngắn hạn thường đặt cược vào sự thay đổi giá bằng cách dựa vào biểu đồ phân tích kỹ thuật biến động giá hàng ngày (daily price swings). Có lẽ đây là sở trường khai thác đã được học tắt đón đầu của nhà đầu tư Việt Nam.

Tuy nhiên, phương pháp phân tích kỹ thuât không có tác dụng hữu ích khi thị trường chứng khoán gặp phải tâm lý bầy đàn. Phân tích cơ bản có thể giúp nhà đầu tư dài hạn kiếm bộn tiền khi tâm lý bầy đàn bán tháo cổ phiếu chuyển sang tâm lý hưng phấn tột cùng khi họ đã thành công trong việc bắt "đáy” thị trường (market bottom), lúc giá cổ phiếu đi xuống rồi phục hồi xác lập một mức đỉnh cao hơn. Những nhà đầu tư lớn nhất không sử dụng phân tích kỹ thuật để đánh cược vào tâm lý bầy đàn.

Chỉ trong sáu tháng mà giá dầu sụt giảm tới hơn 60% thì nhóm cổ phiếu của các đại gia khai thác và bán dầu của các nước đều bị thiệt hại vì sụt giá chứng khoán. Thí dụ, đối với thị trường Mỹ, các đại gia dầu khí như Chevron Corp (Dow Jones, NYSE: CVX), Exxon Mobil Corp (Dow Jones, NYSE: XOM); hay của Việt Nam là Tổng Công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (HOSE: PVD), Tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (HNX: PVS)... trong ngắn hạn sụt giá đảo điên rồi hồi phục như đã thấy.

Thế nhưng, chính tâm lý bầy đàn đẩy mạnh đà bán tháo và thanh khoản sụt giảm, nhưng lại có một mối lợi về trung hạn hay dài hạn là sự tích lũy vốn bắt đáy của các nhà đầu tư dài hạn, giới đầu cơ và các quỹ đầu tư đối xung (Hedge Fund). Giới đầu tư tài chính này phải chịu rủi ro rất lớn khi đoán sai nhưng lại lời lãi rất cao nếu đoán đúng, họ sẽ là tác nhân đẩy giá cổ phiếu tăng vọt. Tuy họ đầu tư theo kiểu đóng chốt theo hai cửa trái ngược (nên mới gọi là đối xung) để nếu có nhóm cổ phiếu sụt giá thì sẽ giúp họ bớt rủi ro, hoặc nếu hai cửa đều tăng giá thì họ kiếm lời rất lớn. Một khi họ rót vốn là rất lớn nên sẽ đẩy sự phấn khích khiến giá cổ phiếu tăng vọt lên đỉnh mới. Nếu tin tức vĩ mô cho thấy nền kinh tế phục hồi khả quan, các hedge fund này của Mỹ đang nhăm nhe nhảy vào thị trường chứng khoán Việt Nam trong tương lai không xa. Đó là “ưu điểm” của tâm lý bầy đàn trên thị trường chứng khoán khi kích động lòng tham của giới đầu tư.

Bài học kinh nghiệm về tâm lý bầy đàn đối với thị trường chứng khoán Việt Nam là khi nhìn vào các chỉ số thị trường, điều quan trọng là nhìn vào các xu hướng dài hạn (thường là qua 52 tuần) và xem các chỉ số có dấu hiệu thay đổi xu hướng hay tốc độ tăng trưởng của cổ phiếu.

Tâm lý bầy đàn lên cao trào khi các nhà đầu tư bị nhiễu loạn thông tin, kể cả "tin vịt" vì lý do kinh tế như tỷ giá biến động, bất động sản đóng băng, nợ xấu ngân hàng, lạm phát tăng trở lại, hay căng thẳng ngoài biển Đông,... như đã thấy trong quá khứ có thể dẫn đến thanh khoản đang tăng đột biến rồi co cụm lại, vì nhà đầu tư kéo tiền ra.

Tuy nhiên, một kinh nghiệm mà nhà đầu tư trong nước cần chú ý là với một thị trường chứng khoán chưa đủ sâu rộng về vốn hóa sẽ khiến cho việc bán tháo hay thoái vốn của các quỹ đầu tư lớn do tâm lý bầy đàn sẽ trở khó khăn, không khả thi. Bởi vì, nếu họ bán tháo hay thoái vốn quá nhanh thì họ sẽ không tìm được người mua. Nếu họ liều lĩnh bán tháo trực tiếp trên sàn giao dịch với quy mô lớn thì sẽ làm giá cổ phiếu của họ đang nắm giữ sụt giảm mà vẫn không có lực hấp thụ và bị lỗ nặng. Vì vậy, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ không có biến động về tâm lý bầy đàn thái quá.

Thứ nữa, mấu chốt ở đây vẫn là các nhà đầu tư Việt Nam phải có bản lĩnh. Nếu các nhà đầu tư Việt Nam cũng hùa theo tâm lý bầy đàn, cũng đầu tư vào cửa bán thì sẽ góp phần làm giá cổ phiếu sụt giảm nặng hơn nữa.

Một thí dụ về tâm lý bầy đàn do "tai nạn ngoài ý muốn" hay gặp trên thị trường chứng khoán. Chẳng hạn là từ vụ “scandal” sữa nhiễm khuẩn trước kia của Tập đoàn sữa Fonterra (New Zealand), và các nhà đầu tư phải đặt câu hỏi tại Việt Nam sẽ có công ty sản xuất sữa nào dính dáng tới sản phẩm sữa của New Zealand hay không. Trước mắt, dù các công ty tại Việt Nam không dính dáng đến Tập đoàn sữa Fonterra, nhưng chắc chắn rằng cổ phiếu của các công ty sản xuất sữa của Việt Nam, chẳng hạn như như Vinamilk (HOSE: VNM), sẽ sụt giá, mà sụt khá nặng, vì tâm lý ưa hốt hoảng của giới đầu tư. Đó là cơ hội cho nhà đầu tư chứng khoán kiếm mối lợi rất lớn. Họ lập tức bán nhanh cổ phiếu công ty sữa của các nhà sản xuất tại Việt Nam, dù lúc ấy nó vẫn tăng điểm nhẹ, vì chắc chắn là vài phiên sau nó sẽ sụt rất nặng.

Khi cổ phiếu đó sụt giảm về mức mà họ thấy hợp lý thì lập tức họ mua vào trước khi nó sẽ tăng vọt trở lại sau khi người ta chứng minh được các công ty sữa của Việt Nam là an toàn, thậm chí sản phẩm sữa Vinamilk của Việt Nam sẽ trở lên khan hiếm bởi người tiêu dùng sẽ quay sang săn lùng và đẩy doanh thu gia tăng. Và nếu biết khôn khéo quảng cáo sản phẩm trên phương tiện truyền thông ở thời điểm đó thì cổ phiếu công ty sản xuất sữa đó sẽ tăng vọt khá mạnh mẽ và lãi bạc tỷ bởi trò chơi cá cược ly kỳ do tâm lý bầy đàn gây ra.

Phạm Quốc Hoàng, William D. Dudley

Để thị trường chứng khoán Việt Nam là thước đo của nền kinh tế


Thị trường chứng khoán cũng là một chỉ số của nền kinh tế. Nếu nhà đầu tư tin tưởng vào nền kinh tế, họ sẽ mua cổ phiếu. Nếu một doanh nghiệp muốn phát triển, họ cần thêm tiền để tài trợ cho việc mở rộng thì có thể bán cổ phần ra công chúng.

Đối với việc đánh giá sức mạnh tăng trưởng và thịnh vượng của nền kinh tế của mọi quốc gia trên thế giới, các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới (World Bank); Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF); Các ngân hàng khu vực, chẳng hạn với Á châu là Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB); và quan trọng nhất là các tổ chức xếp hạng tín dụng như Standard & Poor’s, Moody's, Fitch Ratings vẫn chủ yếu soi xét những yếu tố đặt lên hàng đầu, đó là thị trường chứng khoán ở những quốc gia đó.

Cụ thể, họ căn cứ vào các yếu tố ưu tiên trước nhất khi đánh giá nền kinh tế như sau: Tỷ giá hối đoái đồng nội tệ so với các giỏ ngoại tệ khác, chẳng hạn như tỷ giá VND/USD, kế đến là thị trường trái phiếu Chính phủ 10 năm và thị trường chứng khoán, rồi mới xét đến yếu tố khác như là tăng trưởng GDP, dân số, chỉ số giá tiêu dùng (CPI), dự trữ ngoại hối, dư nợ cho vay khu vực tư nhân, nợ nước ngoài, chỉ số PMI, đầu tư trực tiếp nước ngoài, nợ chính phủ so với GDP, giá trị ngân sách Chính phủ, chi tiêu của Chính phủ, cán cân thương mại, tài khoản vãng lai, tài khoản vãng lai so với GDP, thuế suất doanh nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp... để đưa ra đánh giá tương đối chính xác về nền kinh tế nước đó.


Một ví dụ cụ thể, đối với việc đánh giá sức mạnh nền kinh tế Mỹ, người ta vẫn chủ yếu dựa vào chỉ số công nghiệp trung bình Dow Jones, tính cho 30 doanh nghiệp tiêu biểu nổi tiếng nước Mỹ. Chỉ số Dow Jones này đạt mức cao nhất mọi thời đại 18,053.71 điểm trong tháng 12/2014 khi Bộ Thương mại Mỹ công bố ước tính cuối cùng về GDP quý 3/2014 cho thấy từ tháng 7 đến tháng 9, kinh tế nước này tăng trưởng với tỷ lệ 5% tính theo năm; và đạt mức thấp kỷ lục 41.20 điểm trong tháng 7/1932. So với thời điểm trước khủng hoảng năm 1929, sản lượng công nghiệp của Mỹ giảm 46%, thương mại quốc tế giảm 70%, giá bán sỉ giảm 32%, trong khi lạm phát tăng 607%, và hơn 25% người lao động ở Mỹ mất việc làm. Đó là về thị trường chứng khoán nhìn từ kinh nghiệm của nước Mỹ.

Trở về bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam thì sao? Câu hỏi mà nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế vẫn đặt ra là chuyện cũ cần phải nhắc lại, đó là "tính minh bạch" và thiếu thông tin cho nhà đầu tư cá nhân và công chúng muốn gửi gắm tài sản của họ vào thị trường chứng khoán thay vì họ giữ vàng, USD, hay đem tiền ký thác ngân hàng lấy lãi - đó không phải là cách huy động vốn đẩy tiền vào nền kinh tế hữu hiệu khi vì lý do nào đó nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát cao hoặc giảm phát, và nợ xấu ngân hàng, hay dẫn đến việc ách tắc thanh khoản cho doanh nghiệp cần huy động vốn.

Một mấu chốt quan trọng là việc thống kê để đo sức khỏe của nền kinh tế Việt Nam hầu như rất khó đoán được, vì thị trường cổ phiếu và trái phiếu chưa đủ sâu rộng. Nếu nhìn thống kê nền kinh tế Việt Nam năm 2014 vừa qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 5.9%, thì các lý thuyết kinh tế đã vạch ra là giá tài sản tổng hợp các doanh nghiệp cả nước, lãi và tốc độ phát triển về dài hạn phải đi đôi với nhau. Không thể có tỷ lệ lãi hay lợi nhuận thực trong dài hạn mà các doanh nghiệp Việt Nam vừa công bố trong năm 2014, sau khi khử lạm phát (gọi chung là lãi suất), lại có tỷ lệ lợi nhuận quá thấp so với khả năng tăng trưởng GDP. Con số tỷ lệ lợi nhuận quá thấp so với khả năng tăng trưởng GDP là khá lý tưởng cho thị trường cổ phiếu tăng trưởng mạnh, nếu con số này vượt quá khả năng tăng GDP thì nó là bong bóng tài sản đáng báo động.

Nếu xét tăng trưởng GDP năm 2015 phấn đấu đạt cao hơn năm 2014 (dự kiến đạt 6.2%) mà đem đối chiếu với lãi suất cơ bản dài hạn của Việt Nam hiện nay thì không suôn sẻ. Lãi suất có thể là phép thử để xem xét tình hình kinh tế. Giá trị của cố phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam có tăng “quá đà” hay không còn tùy thuộc vào lợi nhuận thực sự chúng có thể tạo ra. Điều này là không thể tính toán được, cho dù chuyên gia phân tích tài chính và chứng khoán giỏi nhất của Goldman Sachs cũng bó tay, vì tại Việt Nam, thị trường trái phiếu và cổ phiếu chưa đủ sâu rộng để khai thác đúng tiềm năng gọi vốn tinh vi. Ngoài ra, còn rất nhiều doanh nghiệp, các công ty lớn của Việt Nam vẫn chưa niêm yết trên sàn chứng khoán với nhiều lý do, hoặc họ chưa quen với loại hình đầu tư cổ phiếu và trái phiếu này...


Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, muốn theo kịp đà tăng trưởng kinh tế song hành, các công ty sẽ cần phải bán cổ phiếu (IPO) và trở thành công ty đại chúng. Bằng cách này, công ty sẽ được rất nhiều tiền mặt một cách nhanh chóng, và nó báo hiệu rằng công ty đủ khả năng để thực hiện quá trình IPO. Hạn chế duy nhất là những người sáng lập các công ty ấy không còn sở hữu công ty bởi vì họ đã bán nó cho các cổ đông. Nhưng đó không phải là nỗi lo, vì họ có thể giữ lại quyền kiểm soát trong công ty nếu họ sở hữu trên 51% cổ phần.

Nhiều nhà đầu tư, kể cả nhà đầu tư ngoại, sở hữu cổ phiếu “blue chip” như Vinamilk (HOSE:VNM) đã góp phần đưa công ty này lên tầm vóc quốc tế. Điều này sẽ giúp nền kinh tế phát triển, vì nó cung cấp vốn đối với các công ty có nhu cầu phát triển. Niêm yết trên thị trường chứng khoán có nghĩa là thông tin về tình hình kinh doanh, khả năng tài chính của công ty dễ dàng tiếp cận được, và điều này làm tăng sự tin tưởng của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Kết quả là thị trường chứng khoán trở thành nơi thu hút các nhà đầu tư bỏ tiền nhiều hơn, làm cho công ty dễ dàng mở rộng kinh doanh hơn để gia tăng lợi nhuận nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Thị trường chứng khoán cũng là một chỉ số của nền kinh tế. Nếu nhà đầu tư tin tưởng vào nền kinh tế, họ sẽ mua cổ phiếu. Nếu một doanh nghiệp muốn phát triển, họ cần thêm tiền để tài trợ cho việc mở rộng. Thay vì các công ty có thể vay một số tiền từ ngân hàng và họ phải trả lãi suất, nếu lạm phát thì lãi trả lại rất cao, có thể làm chậm sự tăng trưởng công ty. Nếu công ty muốn mở rộng ra ngoài thị trường nội địa của mình thì cũng cần thêm vốn. Cách mà nhiều công ty lựa chọn để tăng vốn là chào bán cổ phần ra công chúng, thường là nhiều vốn hơn so với các công ty có thể vay ngân hàng, nhưng khi ngân hàng rơi vào nợ xấu thì công ty rất khó tiếp cận vốn vì điều kiện thế chấp ngặt nghèo, làm chậm sự phát triển của công ty và đẩy nền kinh tế trì trệ.

Để có thể đạt được những mục tiêu này, thì các lĩnh vực dịch vụ môi giới chứng khoán của Việt Nam phải chuyên nghiệp hơn nữa, phải biết tư vấn cho thân chủ bỏ tiền ra mà có lợi cho thân chủ, tránh hiện tượng "bán khống" (short selling) gây lũng đoạn thị trường và đánh mất niềm tin của nhà đầu tư, vốn sớm muộn gì cũng khiến lĩnh vực môi giới chứng tàn lụi và kéo theo hệ lụy bể bóng đầu tư khi tin tức kinh tế đi một nơi, thị trường chứng khoán đi một nẻo. Quan trọng nhất hiện nay tại Việt Nam vẫn thiếu đơn vị thực hiện dịch vụ ngân hàng đầu tư để tư vấn IPO cho doanh nghiệp một cách chuyên nghiệp, nhiều công ty chứng khoán vẫn chưa thể hiện hết vai trò đúng nghĩa của một ngân hàng đầu tư.

Phạm Quốc Hoàng - William D. Dudley

Giải mã nguyên tắc đầu tư của ông hoàng chứng khoán Warren Buffett


Kể từ khi bong bóng Dot-com bị vỡ vào ngày 10/3/2000, thị trường chứng khoán Mỹ dao động mạnh vì những tin tức bất lợi về tài trợ địa ốc cùng lúc với tình trạng thị trường nhà đất xuống thấp vào năm 2008-2009 kéo dài cho đến năm 2014 khi nền kinh tế Mỹ bắt đầu hồi phục. Giới đầu tư chứng khoán từ lớn đến nhỏ đều bồn chồn lo lắng, tuy nhiên, người đứng đầu một công ty chuyên đầu tư vào cổ phần, chứng khoán từ hơn nửa thế kỷ nay vẫn bình chân như vại - đó là Warren Buffett.

Ông Warren Buffett, bậc thầy về đầu tư trong ngành chứng khoán


Ông được coi là thiên tài đầu tư chứng khoán và là người giàu thứ nhì sau thiên tài điện toán Bill Gates trong danh sách những người giàu nhất Hoa Kỳ. Trong số những người sở hữu tài sản minh bạch, ông xếp thứ tư trên thế giới sau Bill Gates, Carlos Slim (Mexico), Amancio Ortega (Tây Ban Nha), song thực tế Warren Buffett xếp thứ ba nếu tính cả các quỹ đầu tư của ông.

Thống kê đơn giản sau sẽ cho thấy mức tăng trưởng của công ty đầu tư Berkshire Hathaway do Warren Buffett làm Tổng Giám đốc chấp hành, đồng thời là người sở hữu cổ phần nhiều nhất như thế nào. Nếu năm 1956 bạn có 1,000 USD (giả dụ tương đương với 8,600 USD theo thời giá năm 2014) để bỏ vào đây thì số tiền ấy bây giờ - tức 58 năm sau, là gần 50 triệu USD.

Và bây giờ rất nhiều người có lẽ tiếc hùi hụi. Họ chẳng thể nào mua nổi ngay cả một cổ phiếu của công ty này nữa, bởi giá một cổ phiếu hạng nhất của công ty Berkshire Hathaway Inc. (BRK-A) yết giá tại sàn NYSE giờ đây đã lên tới gần 206 ngàn USD, loại hai cũng mấp mé hơn 137 ngàn USD. Tính đến năm 2014, các quỹ tại Berkshire Hathaway của Warren Buffett đã có giá trị 107.6 tỷ USD.

Hành trình tạo nên sự nghiệp

Warren Buffett sinh ngày 30/8/1930 tại Omaha, Nebraska. Từ lúc nhỏ ông đã chứng tỏ khả năng bẩm sinh nhạy bén về tính toán tiền bạc và kinh doanh.

Năm lên 6 tuổi, Warren Buffett đã biết đi buôn vặt kiếm lời. Warren Buffett mua một lốc 6 chai Coca Cola với giá 25 xu rồi đem bán lại mỗi chai 5 xu, vị chi lời 5 xu bỏ túi sau khi bán hết 6 chai Coca Cola.

Năm 11 tuổi, Warren Buffett đã học được bài học kinh nghiệm đầu tiên trong việc mua bán cổ phần. Lúc bấy giờ Warren Buffett gom góp tất cả tiền để dành mua vài cổ phần của công ty Cities Servies với giá 38 USD/cp cộng thêm 25 xu lẻ. Sau đó cổ phiếu này sụt giá mạnh. Rất lo ngại, cậu đợi đến khi giá cổ phiếu lên trở lại rồi đem bán với giá 40 USD/cp. Nhưng sau vài năm giá cổ phiếu của hãng này tăng vọt đến 200 USD (thời giá hồi bấy giờ). Thông qua kinh nghiệm đầu đời này, Warren Buffett học được cách phải bình tĩnh, kiên nhẫn và biết chọn những công ty có căn bản vững vàng nếu muốn đầu tư vào chứng khoán.

Thông qua mua bán cổ phần, năm 1962, Warren Buffett đã trở thành triệu phú. Ông bắt đầu mua lượng lớn cổ phần của công ty Berkshire Hathaway, một công ty sản xuất vải vóc ở New Bedford, bang Massachusetts đang gặp nhiều khó khăn. Đến năm 1965, ông giữ quyền kiểm soát công ty..., và trở thành Chủ tịch từ năm 1969. Sau đó, Warren Buffett biến nó thành cỗ máy đầu tư chính cho ông. Tài sản riêng của ông lúc này là 25 triệu USD. Và từ đó trở đi thì việc kinh doanh của ông cứ thế tiến triển vượt bậc, hơn bất cứ một công ty nào khác. Trong suốt gần nửa thế kỷ, giá cổ phần của công ty Berkshire Hathaway luôn tăng, bất chấp cả những cơn bão lớn đã 4 lần làm thị trường chứng khoán Mỹ điên đảo.

Những nguyên tắc vàng trong đầu tư

Câu hỏi được đặt ra ở đây là làm cách nào mà ông Warren Buffett đã vượt lên trên những xáo trộn của thị trường để mang tiền về cho các cổ đông của Berkshire Hathaway tài tình đến như vậy?

Cách thức đầu tư của nhà tỷ phú Warren Buffett là chọn lọc các công ty ở giai đoạn đầu “thật sự rẻ” và “thích ứng” dựa theo một số công thức tính toán? Chẳng hạn, tỷ số lợi nhuận trên mỗi cổ phần, một khi chia cho giá cả cổ phiếu ở thị trường thì phải có mức cao hơn so với lãi suất dài hạn của công khố phiếu Mỹ. Lợi nhuận trên mỗi cổ phần (EPS), giá trị chứng khoán của công ty trong tương lai sẽ như thế nào? Tỷ số thu hồi lợi nhuận mong đợi dựa theo cách tính trung bình của ROE (Return On Equity) có được trên 14% sau khi trừ đi giá trị phân lời trái phiếu của Mỹ hay không?

Nhiều người vẫn lầm lẫn khi cho rằng câu "thần chú" thông thường của nhà đầu tư và cả Warren Buffett ưa thích là "P/E thấp bằng cổ phiếu mặc cả thì nên mua; P/E cao bằng cổ phiếu đắt đỏ không nên mua.". Đó là lầm lẫn tai hại. Nhiều nhà đầu tư bảo thủ, trong đó có Warren Buffett lại thích tỷ lệ PEG, bởi vì nó hàm chứa yếu tố tốc độ tăng trưởng. Thậm chí tốt hơn là chia cổ tức điều chỉnh tỷ lệ PEG. Một P/E thấp có thể cho thấy rằng các nhà đầu tư cảm thấy khó khăn phía trước do công ty đó không vượt qua chính mình chứ không phải giá cổ phiếu đó rẻ và hấp dẫn để mù quáng mà mua.

Sau khi mua thì hãy quên chúng đi vì chúng ta sẽ nắm giữ những khoản đầu tư đó trong một thời gian rất dài, trừ phi sự chọn lựa có những sai lầm, hoặc vì một biến cố nào xảy đến, hoàn toàn trái ngược với tiên liệu như khủng bố, hay máy bay của hãng hàng không Malaysia Airlines bị bắn rơi, Nhà nước Hồi giáo (IS), dịch bệnh Ebola..., khiến giá trị cổ phiếu của các hãng bảo hiểm và hàng không tụt dốc không phanh...

Tóm lại, nguyên tắc đầu tư của Warren Buffett là đi săn tìm những công ty tốt, sản phẩm/dịch vụ luôn có nhu cầu cao, mức lợi nhuận công ty tạo ra lớn cùng với thành phần quản trị và điều hành tài ba, biết tận dụng vốn tồn đọng làm tăng giá trị công ty để có thể ước tính lợi tức và giá trị chứng khoán trong tương lai gần. Nếu so với thời điểm sàng lọc hiện tại, giá phải thật rẻ, để có thể nắm chắc tỷ số thu hồi lợi nhuận đầu tư cao. Một khi quyết định đầu tư thì phải cầm giữ cổ phần với thời gian lâu dài không chạy theo tâm lý đám đông.

Có gì trong danh mục chứng khoán của Warren Buffett?

Sau cùng, người viết trình bày sơ lược về nhà tỷ phú có tài sản minh bạch như Warren Buffett. Dường như ai cũng có vẻ rất mến mộ Warren Buffett bởi tính cách giản dị, kiếm tiền không vì cá nhân mà vì cộng đồng, rất hào phóng chi tiền thông qua các quỹ từ thiện. Ông hiện đang đầu tư vào 30 mã cổ phiếu tại tất cả các sàn giao dịch chứng khoán tại Wall Street như Dow Jones, NASDAQ, NYSE, Standard and Poor’s 500.

Trong danh sách 29 mã cổ phiếu mà Warren Buffett đang nắm giữ thì có đến 7 mã cổ phiếu được yết giá tại sàn trung bình công nghiệp Dow Jones: Coca-Cola Co (KO), International Business Machines Co ..(IBM), American Express Co (AXP), Procter and Gamble Co (PG), Wal-Mart Stores Inc (WMT), Exxon Mobil Corp (XOM), Visa Inc (V).

Còn lại 22 mã cổ phiếu được yết giá tại các sàn NYSE, Standard & Poor’s 500, NASDAQ. Danh sách gồm: Wells Fargo & Co (WFC: NYSE), U.S. Bancorp (USB: NYSE), Directv (DTV: NASDAQ), Moody's Corporation (MCO: NYSE), DaVita HealthCare Partners Inc (DVA: NYSE), Phillips 66 (PSX: NYSE), General Motors Co (GM: NYSE), ConocoPhillips (COP: NYSE), Liberty Media Corporation Class A (LMCA: NASDAQ), Bank of New York Mellon Corp (BK: NYSE), National Oilwell Varco Inc. (NOV: NYSE), Suncor Energy Inc (SU: NYSE), Chicago Bridge and Iron Company (CBI: NYSE), Viacom Inc. (NASDAQ: VIA), M & T Bank Corp (MTB: NYSE), VeriSign Inc. (VRSN: NASDAQ), Costco Wholesale Corporation (COST: NASDAQ), USG Corp (USG: NYSE), Precision Castparts Corp. (PCP: NYSE), Wabco Holdings Incorporated (WBC: NYSE), Deere & Co (DE: NYSE), Torchmark Corporation (TMK: NYSE).

Cần lưu ý rằng, trong 29 mã cổ phiếu mà Warren Buffett đầu tư, có mã được yết giá tại nhiều sàn giao dịch cùng lúc, ví dụ như Coca-Cola Co (mã chứng khoán KO), yết giá tại 3 sàn là Dow Jones, NYSE, Standard and Poor’s 500...

Phạm Quốc Hoàng - William D. Dudley

Biến động tỷ giá USD/CNY, USD/VNĐ, VNĐ/CNY: Lợi và hại cho Việt Nam


Ngay cả chính các nước khối BRICS còn không giao dịch song phương bằng đồng tiền của họ, mà cũng phải quy đổi ra bằng đồng USD để bảo vệ lợi thế của mỗi nước thì Việt Nam phải tính toán hết sức thận trọng, vì Trung Quốc cần bạn hàng hơn là mua hàng.

Tỷ giá USD/CNY

Hiện nay, dù đồng USD tăng giá so với các rổ ngoại tệ được lưu hành rộng trên thế giới là đồng Euro (EUR), Yên Nhật (JPY), Bảng Anh (GBP), đồng đô la Canada (CAD), Krona Thụy Điển (SEK), Franc Thụy Sĩ (CHF), Nhân dân tệ Trung Quốc (CNY), đô la Úc (AUD), Peso Mexico (MXN), đồng đô la New Zealand (NZD)... nhưng Trung Quốc vẫn ấn định giá trị thấp cho đồng Nhân dân tệ (CNY), bằng cách neo giá nó với đồng đô la Mỹ, cùng với một rổ tiền tệ khác. Họ giữ tỷ giá bằng cách mua trái phiếu kho bạc Mỹ, làm hạn chế nguồn cung đồng USD. Điều này khiến cho đồng CNY được định giá thấp so với đồng USD và các rổ ngoại tệ khác để giữ giá xuất khẩu rẻ, dễ cạnh tranh.

Tuy nhiên, các tin tức nới lỏng tiền tệ bằng biện pháp QE đã làm lu mờ việc đồng USD lên giá, và đã được đồn đoán nhiều trên thị trường và truyền thông. Ngân hàng Trung ương các nước trên thế giới theo dõi và nói rất nhiều về chính sách tiền tệ nới lỏng tại các nước Nhật Bản, khối kinh tế Eurozone của 19 nước sử dụng chung đồng EUR, và kể cả Trung Quốc cũng đang cân nhắc sử dụng biện pháp QE này trong những tháng đầu năm 2015. Hiện một số nền kinh tế kinh tế lớn của thế giới đang chứng kiến tình trạng giảm phát, đi cùng với việc ngày 15/1/2015, Ngân hàng Trung ương Thụy Sĩ (SNB) bất ngờ công bố hai quyết định là chấm dứt việc neo giá đồng Franc Thụy Sĩ (CHF) vào đồng EUR và thả nổi đồng CHF, khi hạ lãi suất dưới mức âm thêm 0.75%. Cùng lúc, Ngân hàng Trung ương của nhiều nước đua nhau cắt giảm lãi suất gần dưới mức âm khiến người ta liên tưởng đến một bóng ma chiến tranh tiền tệ sắp tái diễn.

Điều này khiến nhiều chuyên gia phân tích kinh tế hàng đầu của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) và Ngân hàng Trung ương Nhật (BoJ) cho rằng, việcCục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) họp hôm 29/1/2015 cho thấy, Fed sẽ quyết định thời điểm nâng lãi suất lần đầu tiên trong gần một thập niên duy trì lãi suất thấp, có thể vào giữa tháng 6/2015. Việc này sẽ khiến Trung Quốc phải chuyển hướng là sẽ không dìm đồng CNY thấp nữa mà sẽ thả nổi đồng CNY tăng giá có kiểm soát, để chuyển hướng vào tiêu thụ nội địa và gia tăng đầu tư ra bên ngoài làm lực đẩy phát triển kinh tế thay vì giành đầu tàu xuất khẩu cho tăng trưởng kinh tế bằng đồng tiền rẻ như mấy thập niên qua. Điều này liệu sẽ tác động gì đến Việt Nam, người viết sẽ tiếp tục phân tích dưới đây.

Về bối cảnh đồng CNY, kể từ năm 1994, Trung Quốc áp dụng chế độ ngoại hối cố định, theo hối suất nhất định, nên đồng USD giảm giá tới đâu thì đồng CNY sụt giá đến đấy. Khi đồng USD tăng giá, đồng CNY của Trung Quốc vẫn không tăng mà còn giảm giá một cách giả tạo vì không theo quy luật cung cầu. Nhờ vậy mà hàng hóa Trung Quốc vẫn luôn rẻ hơn thực tế, có nghĩa là Trung Quốc gián tiếp trợ cấp xuất khẩu bằng hối suất rẻ. Theo dự báo, Trung Quốc có lẽ sẽ nỗ lực để đồng Nhân dân tệ được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đưa vào rổ tiền tệ mang tên quyền rút vốn đặc biệt (SDR).

Từ đầu năm 2015, thị trường tài chính các nơi trên thế giới, kể cả tại Trung Quốc, đều dự đoán là cuối cùng Bắc Kinh phải nâng giá đồng CNY, và vì dự đoán như vậy nên mới có nạn đầu cơ và có nhiều đề xuất giao dịch ngoại hối trực tiếp giữa Trung Quốc và các nước khác, kể cả Việt Nam. Hiện nay, tỷ giá hoán đổi USD/CNY là 1 USD ăn xấp xỉ 6.25 CNY. Con số này không tăng đáng kể nào so với ngày 28/6/2010 là 6.7890 CNY đổi lấy 1 USD, dù năm 2010 đồng USD đã đụng đáy.

Tỷ giá CNY/VNĐ (nếu Việt Nam giao dịch cả tỷ giá CNY/VNĐ và USD/CNY)

Hiện Việt Nam là quốc gia có mối quan hệ sâu rộng với Trung Quốc. Trong năm 2014, với kim ngạch nhập khẩu ước tính đạt 43.7 tỷ USD, tăng 18.2% so với năm 2013, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, theo báo cáo vừa được Tổng cục Thống kê phát hành chiều 27/12/2014. Đó là con số rất lớn nếu so sánh với GDP của Việt Nam.

Trong năm 2013, thực tế theo thống kê của ngân hàng đầu tư Goldman Sachs, trao đổi mậu dịch giữa Việt Nam với Trung Quốc lên đến 50 tỷ USD, cao hơn năm 2014, thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc đã lên đến gần 24 tỷ USD, tăng 44.5% so với năm 2012. Trong lĩnh vực đầu tư, Trung Quốc cũng là một trong những đối tác hàng đầu của Việt Nam.

Nếu đồng CNY tăng giá thì sẽ ảnh hưởng đến ngành xuất nhập khẩu của Việt Nam, cũng như đối với các dự án đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam là điều chắc chắn và Việt Nam phải tính toán ngay bây giờ để ứng phó cho tương lai.

Trước mắt việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái của Trung Quốc còn rất khiêm tốn dù đồng USD đã tăng giá, nhưng về lâu dài thì đây là một tiến trình không thể đảo ngược khi Trung Quốc có tham vọng quốc tế hóa đồng CNY. Khi đồng CNY tăng giá, điều đó có nghĩa là tiêu dùng nội địa và đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc sẽ phải gia tăng. Bởi lẽ khi đồng CNY tăng giá, lương bổng tại Trung Quốc trả cho nhân công sẽ phải tăng, nên các công ty Trung Quốc sẽ dời nhà náy đem sang đầu tư tại các nước khác có nhân công rẻ hơn, và Việt Nam sẽ là một trong những thị trường nằm trong chiến lược phát triển đó của Trung Quốc.

Riêng trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, khi đồng CNY tăng giá, thì hàng xuất khẩu của Trung Quốc sẽ trở nên đắt đỏ hơn, và làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc. Đây sẽ là một cơ hội đối với ngành xuất khẩu của Việt Nam để thâm nhập vào thị trường Trung Quốc, đặc biệt là nếu các khoản trao đổi đó được thanh toán bằng đồng USD chứ không phải đồng đồng CNY. Qua đó Việt Nam có thể hy vọng giảm bớt thâm hụt mậu dịch đối với bạn hàng khổng lồ Trung Quốc mắc bệnh "nghiện xuất khẩu" này.

Một yếu tố khác khiến Việt Nam cần suy nghĩ và hết sức thận trọng theo dõi từng động thái của Trung Quốc, đó là với một đơn vị tiền tệ CNY tăng giá, trong tương lai không xa, bộ máy sản xuất công nghiệp của họ sẽ từng bước nâng cao về mặt chất lượng. Cụ thể, giá thành của Trung Quốc sẽ cao hơn so với các nước đang phát triển khác, như vậy Trung Quốc sẽ từng bước đưa ngành công nghiệp hướng đến với những sản phẩm có trị giá gia tăng cao hơn mà gần nhất là theo mô hình tăng trưởng của Hàn Quốc, sau đó sẽ tiến xa hơn theo mô hình của Nhật Bản, EU rồi đến Mỹ.

Chẳng hạn là trước năm 2004, đồng CNY của Trung Quốc được neo giá vào đồng USD với giá trị thấp để bán rẻ các mặt hàng ngành dệt may, mỗi năm thu về đến 75% thặng dư mậu dịch cho Trung Quốc. Khi nâng giá đồng CNY vào năm 2005, tỷ trọng các ngành dệt may, và các ngành gia công phần thô của Trung Quốc đã giảm đi đáng kể, đồng thời Trung Quốc đã đẩy mạnh khu vực sản xuất trang thiết bị cơ khí và điện tử để trở thành một trong những "công xưởng thế giới" cung cấp các thiết bị gia công linh kiện máy vi tính, màn hình tivi, điện thoại, xe lửa cao tốc của thế giới...

Chính vì yếu tố tham vọng quốc tế hóa đồng CNY, rõ ràng Trung Quốc phải đến lúc thả nổi đồng đồng CNY trong trong tương lai không xa. Điều đó có nghĩa là đồng CNY sẽ buộc phải tăng giá, nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cán cân thương mại Việt Nam - Trung Quốc, mà còn ảnh hưởng đến tổng kim ngạch đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam. Về lâu dài, nó còn tác động cả đến chiến lược phát triển của Việt Nam trong lĩnh vực cơ khí, điện tử, hay các lĩnh vực công nghiệp phụ trợ cao cấp của Việt Nam đang hướng tới, chẳng hạn như sản xuất linh kiện điện tử, viễn thông, cơ khí tự động mà Việt Nam đang liên doanh với nước ngoài, kể cả lĩnh vực mà Việt Nam đang dần làm chủ một phần về công nghiệp cơ khí, điện tử. Cho nên, một khi Trung Quốc cân bằng lại chính sách phát triển của họ, tức là vừa chú trọng hơn đến tiêu thụ nội địa, vừa nâng cấp cỗ máy sản xuất thì sẽ mở ra cho Việt Nam cơ hội cũng nhiều mà rủi ro cũng không kém.

Việc giao dịch thanh toán trực tiếp bằng đồng CNY tại Việt Nam (về lý thuyết nếu việc giao dịch đó bằng cả VNĐ và CNY)

Có thông tin Hiệp hội Doanh nghiệp Trung Quốc đề nghị thanh toán trực tiếp bằng đồng CNY tại Việt Nam, điều này có lợi hay có hại? Đó là câu hỏi tâm điểm mà giới chuyên gia kinh tế và doanh nghiệp cũng như người dân Việt Nam chờ đợi một sự giải thích rõ ràng.

Báo cáo gửi Thủ tướng mới đây, Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổng hợp kiến nghị của cộng đồng doanh nghiệp, trong đó Hiệp hội Doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam và Ngân hàng Công thương nước này (ICBC) đề xuất cho mở rộng phạm vi sử dụng đồng Nhân dân tệ (CNY).

Ngoài ra, Hiệp hội Doanh nghiệp Trung Quốc còn đề xuất cho ICBC thực hiện hợp tác về nghiệp vụ Nhân dân tệ với các ngân hàng thương mại Việt Nam đang thực hiện nghiệp vụ liên quan đến đồng CNY.

Cụ thể, giao dịch và mua bán trực tiếp bằng đồng CNY và đồng VNĐ một mặt cho phép cả Việt Nam lẫn Trung Quốc cùng giảm bớt mức độ lệ thuộc vào tỷ giá của đồng USD. Nếu vì một lý do nào đó đồng USD bị mất giá, dự trữ ngoại tệ bằng đồng USD của Việt Nam và Trung Quốc qua đó cũng hạn chế giảm theo. Ngược lại, trong trường hợp đồng USD tăng cao, thì hàng xuất khẩu của Trung Quốc sẽ tăng giá, qua đó mất sức cạnh tranh, nhưng Trung Quốc lại có lợi thế là sẽ giảm được những chi phí giao dịch trung gian qua đồng USD, nhưng nếu Trung Quốc vẫn dìm giá đồng CNY thấp thì Việt Nam sẽ bị thiệt hại nặng khi chuyển đổi tỷ giá đồng CNY sang USD.

Tuy nhiên, việc mở rộng tầm mức ảnh hưởng quốc tế của đồng CNY cũng sẽ đặt ra nhiều thách thức đối với bản thân của Trung Quốc. Thách thức hàng đầu là Trung Quốc sẽ mất dần khả năng kiểm soát đồng CNY. Nguy cơ tiếp theo là đồng tiền Trung Quốc có chiều hướng tăng giá dần theo luật chơi của thị trường. Một nguy cơ rủi ro nữa là vấn đề cả Việt Nam và Trung Quốc cũng như nhiều quốc gia Á Châu khác vẫn dùng đồng USD làm đơn vị thanh toán luồng giao dịch song phương của họ. Cho nên mua bán hay đầu tư gì với nhau cũng phải đổi qua đồng USD, rồi trả lệ phí và chịu thêm yếu tố rủi ro ngoại hối là tỷ giá đồng nội tệ của hai nước có thể lên xuống so với đồng USD.

Nói chung, nước nào cũng phải nghĩ đến quyền lợi riêng của mình và dù có tăng cường giao dịch song phương với nhau thì không chỉ có riêng Việt Nam và Trung Quốc mà còn nhiều quốc gia khác đều có bạn hàng lớn nhất vẫn là Mỹ, và trong hoàn cảnh hiện nay, nỗi lo của họ chính là đồng USD lên giá khi các ngoại tệ kia đều gặp khó khăn và sẽ còn bị biến động rất mạnh. Tuy nhiên, với nền kinh tế dành bộ máy sản xuất vào xuất khẩu, việc tiền VNĐ có bị mất giá nhẹso với đồng USD thì cũng có lợi thế cho Việt Nam dễ xuất khẩu hơn vì hàng hóa rẻ hơn so với Trung Quốc.

Cụ thể, trong năm 2014, đồng USD luôn lên giá so với VNĐ ở biên độ có kiểm soát thì Mỹ vẫn tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch trong năm 2014, ước tính đạt 28.5 tỷ USD, tăng 19.6% so với năm 2013, chưa kể lợi thế khi Việt Nam trao đổi thương mại với các nền kinh tế mới nổi như Brasil, Ấn Độ, Nam Phi...

Yếu tố sau cùng cần hết sức thận trọng, đó là đối với giao dịch ngoại hối hiện nay trên thế giới, là hơn 85% các giao dịch ngoại hối lại liên quan đến đồng USD. Hơn nữa, khoảng 42% nợ của thế giới được phát hành bằng đồng USD. Kết quả là, các ngân hàng, và các thị trường tài chính nước ngoài đòi hỏi rất nhiều USD để tiến hành trao đổi bán buôn trong kinh doanh.

Một trong những điểm để nhận ra bối cảnh của thế giới hiện nay là báo cáo mới đây của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS, Bank for International Settlements) cho biết các khoản nợ ngoài hệ thống ngân hàng hiện nay trên thế giới bằng đồng USD lên tới 9,000 tỷ USD, trong đó Trung Quốc là nước có tỷ lệ nợ rất lớn chưa qua chu kỳ trả nợ mà chưa ai rõ. Còn nợ chính thức của thế giới, được ghi trong sổ sách bằng đồng USD là khoảng 5,000 tỷ USD.

Đối với việc thanh toán một chiều bằng đồng CNY giữa Việt Nam và Trung Quốc, thì chắc chắn rủi ro là hoàn toàn về phía Việt Nam. Trường hợp mà Việt Nam cần chú ý đó là các nền kinh tế mới nổi BRICS gồm Brasil, Nga (Russia), Ấn Độ (India), Trung Quốc (China) và Nam Phi (South Africa) giao dịch hoán đổi tự do bằng đồng tiền chung của họ và chấp nhận cho thanh toán bằng đồng tiền các nước khối BRICS với đối tác bên ngoài theo tỷ giá hối đoái của thị trường. Tuy nhiên, ngay cả chính các nước khối BRICS này còn không giao dịch song phương bằng đồng tiền của họ, mà cũng phải quy đổi ra bằng đồng USD để bảo vệ lợi thế của mỗi nước thì Việt Nam phải tính toán hết sức thận trọng, vì Trung Quốc cần bạn hàng hơn là mua hàng.

Phạm Quốc Hoàng - William D. Dudley (USA)

Cảnh báo những ưu và nhược điểm của thương vụ M&A


Mua bán sáp nhập doanh nghiệp (Mergers and Acquisitions, M&A) là hoạt động bình thường trong một nền kinh tế thị trường toàn cầu hóa ngày nay, và M&A chắc chắn sẽ là một xu thế không thể đảo ngược trong thời gian tới tại Việt Nam.


Trong các thương vụ sáp nhập, chắc chắn những thương vụ diễn ra theo hướng thôn tính thân thiện cũng nhiều mà thù nghịch có, nhưng giới lãnh đạo doanh nghiệp ở Việt Nam hầu như vẫn chưa ý thức được các hệ lụy cũng như các phương pháp chống bị đối thủ thôn tính.

Tại Việt Nam, phải thừa nhận rằng các doanh nghiệp mới thành lập hoặc doanh nghiệp nhỏ chiếm khá nhiều. Các doanh nghiệp nhỏ hầu ít sáng tạo để phát triển và điều đó có thể giết chết một số lượng lớn các doanh nghiệp này. Hoạt động M&A gần đây rộ lên Việt Nam là ý tưởng hay, vì có thể kéo những doanh nghiệp nhỏ vào sân chơi của các doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên, với thị trường đang ở trong giai đoạn khó khăn như hiện nay và nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang được định giá rất thấp, thì có lẽ đây là thời điểm tốt để những con "cá mập" săn bắt những con "cá bé".

Tuy nhiên, cần phải hiểu rõ “trò chơi” M&A ú tim này, nếu không Việt Nam sẽ đánh mất mọi thứ về "chủ quyền thương hiệu" và kẻ mạnh là các "đại gia" nước ngoài sẽ kiểm soát một phần hoặc toàn bộ thị trường mà doanh nghiệp Việt Nam đã gầy dựng.

Chúng tôi lấy thí dụ mà đại đa số ai biết sử dụng công nghệ lướt web đều biết trò chơi chiến lược sáp nhập và thôn tính này. Cụ thể là việc Microsoft, khi họ có ý định muốn mua Netscape Navigator hay Netscapem là tên của trình duyệt web phổ biến trong những năm 1990 và là sản phẩm của Netscape Communications Corporation với sản phẩm Mozilla Firefox ngày nay, để thống trị thị trường trình duyệt web (browser) trong những năm tháng đầu tiên. Lúc đó, Netscape Nevigator vẫn còn là một sản phẩm trình duyệt web độc lập và cạnh tranh rất tốt với Internet Explorer.

Tất nhiên là thương vụ này không thành công. Nếu thành công, người dùng các sản phẩm của Microsoft e rằng sẽ không được Microsoft hào phóng gói Internet Explorer vào sản phẩm Windows miễn phí nữa mà phải trả phí. Khi Microsoft không mua được Netscape, họ liền chơi trò cạnh tranh bất chính để hạ bệ Netscape Navigator bằng mọi cách, như bán phần mềm Windows kèm với Internet Explorer (thực tế là miễn phí có sẵn trong phần mềm Windows của Microsoft) thì Netscape Nevigator không thể cạnh tranh lại vì hầu như những người dùng thiết bị máy tính thì đều mua Windows của Microsoft cả, và vì thế đều bị ép phải sử dụng luôn cả Internet Explorer, dù chẳng ai muốn sử dụng trình duyệt Internet Explorer kém cỏi này.

Từ thí dụ trên, các doanh nghiệp và các luật gia, các nhà kinh tế của Việt Nam cần phải am hiểu chuyên sâu về chiến lược kinh doanh của những con "cá mập" đi thâu tóm những con "cá bé", nhằm tránh để họ chiếm lĩnh thị phần độc quyền, thao túng giá để "móc túi" người tiêu dùng trong nước. Khi đã thâu tóm đối thủ hoàn toàn, họ nghiễm nhiên giành lấy thị phần mà doanh nghiệp bị thâu tóm đã bỏ rất nhiều công sức để gầy dụng thương hiệu và tiền bạc quảng cáo trên phương tiện truyền thông đại chúng cả chục năm.

Tuy nhiên, không phải bi quan đến mức như thế. Với tình trạng ít sáng tạo trong kinh doanh của các doanh nghiệp của Việt Nam, sáp nhập là cơ hội cho người lao động có năng lực chuyên môn phải phấn đấu hơn nữa. Một hệ quả thường thấy của các vụ M&A là nhân viên phải đảm nhận thêm nhiều công việc khác. Cấp quản lý cần phải giao tiếp với các nhân viên dưới quyền về khả năng làm việc này và giúp đỡ để họ đạt được các kỹ năng và kiến thức cần thiết để thành công với vai trò mới sau thương vụ. Điều này không thực sự dễ dàng như người ta tưởng đối với một nước đang hội nhập toàn cầu hóa như Việt Nam.

Đặc biệt, đây là lời cảnh báo cho những lãnh đạo hay nhân viên ngân hàng kém năng lực, nếu muốn không bị sa thải phải có tinh thần trách nhiệm, cầu tiến. Tất nhiên, Việt Nam cũng cần tham khảo thêm các thương vụ M&A ngân hàng Mỹ vào những năm 2008-2009, khi kinh tế Mỹ bị khủng hoảng buộc Cục Dự trữ Liên bang (Fed) phải dàn xếp để tổ hợp ngân hàng JPMorgan Chase (NYSE: JPM) mua lại ngân hàng đầu tư Bear Stearns, hay Bank of America Corp (NYSE, S&P 500: BAC) mua lại ngân hàng Merrill Lynch năm 2008 đã giúp Bank of America trở thành công ty quản lý tài sản lớn nhất thế giới lúc ấy, khi các đại gia này dính vào những khoản tiền cho vay dưới chuẩn. Vì "quá lớn để sụp đổ" (too big to fail) nên Fed buộc phải cho sáp nhập, nhằm tránh mang tiếng là lấy tiền thuế của dân để cứu những đại gia "too big to fail" này, để chặn đà lây lan sang lĩnh vực kinh tế khác...

Phạm Quốc Hoàng - William D. Dudley

March 17, 2015

Phương Thơ(P2)

Trích một đoạn viết trên tờ Times của ông ông Phạm Quốc Hoàng, William D. Dudley viết cách đây 1 năm rằng:

"Hiện nay, một số nhà kinh tế Việt Nam hay so sánh nợ công của Việt Nam so với Mỹ, Nhât Bản, là một trong những quốc gia có tỷ lệ nơ công cao nhất thế giới, trong đó Nhật Bản đội sổ với tỷ lệ nợ công gần 228%, Mỹ xếp thứ 6 với tỷ lệ nợ công là 101,5%, tức là xếp sau Hy Lạp, Italy, Bồ Đào Nha, Singapore để đưa ra khuyến dụ là tỷ lệ nợ công của Việt Nam không thấm vào đâu so với những nước kể trên nên không đáng ngại để tiếp tục vay tiền tài trợ các dự án phát triển kinh tế mà chưa thẩm định rủi ro. Đó là cách so sánh khập khiễng cực kỳ nguy hiểm. Bởi vì tuyệt đại đa số là các món nợ của Nhật là "nội trái", được yết giá bằng đồng JPY, tức là "Nhật nợ Nhật" chứ không nợ ngoài. Cụ thể, chủ nợ của đa số các khoản nợ ấy lại là BoJ, nghĩa là chủ nợ cũng là chủ nhà in giấy bạc là đồng JPY và nhờ vậy Nhật có quyền quyết định về năng suất trái phiếu cao thấp khi bơm tiền ra. Vì thế, thị trường tài chính Nhật vẫn ổn định và không bị giao động nặng về lãi suất. Thực tế, năng suất trái phiếu quốc tái kỳ hạn 10 năm của Nhật cực thấp, hơn cả Mỹ, và Đức, cùng một số nước có cùng đẳng cấp xếp hạng tín dụng là ba chữ A hoa AAA.

Bởi vì, các tỷ lệ nợ trên GDP của Mỹ là ít rủi ro và nó không quan trọng đối với một đất nước mà đồng tiền được dân chúng trong nước, hay giới đầu tư nước ngoài tin dùng, họ có thể phát hành nợ bằng đồng tiền riêng của mình. Chẳng hạn Mỹ nợ quốc tế bằng đồng USD, nên có thể chỉ cần "in thêm tiền" (print more money) để trả nợ. Vì lý do này, nguy cơ vỡ nợ công của Mỹ là rất thấp, dù các món nợ công của Mỹ ngày càng phình ra. Nhật Bản nợ của tỷ lệ GDP đến năm 2014 là mấp mé 228%, và đã được tích lũy trong nhiều thập kỷ. Nhật Bản không phải là nguy cơ vỡ nợ cao, bởi vì hầu hết các khoản nợ của chính phủ Nhật Bản được tài trợ bởi công dân của họ nên không bị áp lực tăng lãi suất và lãnh đạo các chính phủ Nhật Bản bị kiểm soát chặt chẽ của dân chúng trong hơn 20 chục năm qua có đến 15 đời thủ tướng lên xuống như đèn kéo quân đã thay nhau cầm quyền vì bị áp lực của dân chúng Nhật Bản. 

Đối với nợ công của những quốc gia, dù tỷ lệ nợ thấp, nhưng lại rất dễ vỡ nợ. Lý do các khoản nợ đó nếu đi vay từ các chủ nợ là nhà đầu tư bên ngoài, là nhà đầu tư quốc tế, và vay bằng đồng tiền mạnh như USD, EUR, Bảng Anh (GBP), đồng đô la Canada (CAD), Krona Thụy Điển (SEK), Franc Thụy Sĩ (CHF), đô la Úc (AUD)..., hay vẫn chủ yếu là đồng USD, có nghĩa là nhà đầu tư họ sẽ không nhượng bộ tha thứ khi nói đến việc trì hoãn thanh toán nợ của quốc gia đó. Và dẫn đến lạm phát nợ của quốc gia đó là bằng đồng USD chứ không phải là đồng nội tệ những quốc gia vay tiền, có nghĩa là làm "phá giá đồng tiền" (currency devaluations) của quốc gia đó sẽ gia tăng có thể nhanh chóng dẫn đến mức độ nợ cao hơn.".

Đối với Việt Nam, ông Phạm Quốc Hoàng, William D. Dudley dự báo việc NHNN Việt Nam có phá giá VND đến biên độ 3% cũng chưa phải lo ngại, bởi các đồng nội tệ các nước khác họ còn bị mất giá trên 5%, đó là quy luật thôi, nếu Việt Nam biết nhân cơ hội đồng bạc bị phá giá mà gia tăng xuất khẩu thì nó sẽ nhắm vào hai mũi tên là doanh nghiệp được cải thiện, dự trữ ngoại tệ sẽ tăng, nhập siêu sẽ giảm, đồng nội tệ sẽ tăng giá lại, còn nếu nhập siêu vẫn không giảm thì đó là bi kịch cho Việt Nam. Nhưng phải có bi kịch thì người ta mới chịu cải tổ sửa chữa chứ cái gì cũng vẽ ra bức tranh tốt đẹp khi gặp khủng hoảng thì hết ai cứu mình.

S&P, Moody's và Fitch dựa vào đâu để xếp hạng tín nhiệm?

S&P, Moody's và Fitch thường căn cứ vào các yếu tố như: tăng trưởng GDP, dân số, chỉ số giá tiêu dùng (CPI), dự trữ ngoại hối, dư nợ cho vay khu vực tư nhân, nợ nước ngoài, thị trường chứng khoán, chỉ số PMI, đầu tư trực tiếp nước ngoài, nợ chính phủ so với GDP, ngân sách, chi tiêu của chính phủ, cán cân thương mại, tài khoản vãng lai, tài khoản vãng lai so với GDP, thuế suất doanh nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp... để đưa ra một thang điểm tương đối chính xác về nền kinh tế nước đó.

Nhưng cơ bản, tựu trung lại, thì các tổ chức xếp hạng tín nhiệm sẽ phân tích các yêu tố chuyên môn như sau:

Đầu tiên, là họ xét quốc gia đó mắc nợ trước đấy bao nhiêu và hàng năm, hàng tháng phải trả nợ bao nhiêu tiền, cả vốn lẫn lời (nếu đã mắc nợ nhiều thì sẽ rất khó vay thêm, nếu vay được thì trả lãi đắt).

Thứ hai, ngoài việc trả nợ, quốc gia đó còn phải nhập khẩu bao nhiêu, nôm na là sẽ còn phải chi ra bao nhiêu ngoại tệ so với vốn liếng dự trữ ngoại tệ sẵn có. Nói vắn tắt lại là vốn liếng ngoại tệ còn đủ cho mấy tuần hay mấy tháng nhập khẩu? Nếu dưới ba tháng là có rủi ro!

Thứ ba, là khả năng xuất khẩu quốc gia đó để thu hồi ngoại tệ nhiều hay ít, căn cứ trên tình hình chủ quan của quốc gia và khách quan của các thị trường quốc tế, mà khả năng xuất siêu càng cao thì rủi ro càng ít, khả năng đó mà kém tức hay bị nhập siêu thì càng dễ bị xuống cấp tín nhiệm.

Thứ tư, quốc gia đó đầu tư bao nhiêu, có khả năng sinh lời chừng nào để sau này còn thanh toán nợ nần trong nước lẫn nước ngoài? Đây là yếu tố rất quan trọng dẫn đến sự thẩm định "chính sách ổn định kinh tế vĩ mô" (macroeconomic stabilization policy) của quốc gia ấy.

Thứ năm, là lượng tiền tệ lưu hành và lãi suất điều hành của ngân hàng trung ương cao hay thấp so với sản lượng GDP để ước tính ra rủi ro lạm phát. Cần nhớ rằng lạm phát cũng trực tiếp ảnh hưởng đến giá trị đồng nội tệ của quốc gia đó và khả năng trả nợ bằng ngoại tệ qua tỷ giá, chủ yếu tỷ giá đồng USD.

Nếu quốc gia nào đi vay ngoại tệ thì dễ bị rủi ro về ngoại hối. Khi đi vay bằng ngoại tệ, nếu quản lý kinh tế kém là hay bị "thâm hụt ngân sách" (budget deficits), hay bị nhập siêu nặng thì quốc gia đó còn có thể bị nạn lạm phát, làm đồng tiền nội tệ bị mất giá chỉ cần vài đơn vị phần trăm so với đồng USD thì cũng phải trả lãi bạc triệu và gánh nợ lại càng nặng nề hơn trước.

Sau cùng, khi vay mượn, nếu tỷ lệ nợ so với GDP vượt quá "debt ceiling" (trần nợ) trong thời gian dài, các nhà đầu tư, tức chủ nợ, sẽ bắt đầu lo lắng. Họ sẽ đòi hỏi một mức lãi suất cao hơn để phòng ngừa rủi ro của quốc gia đó vỡ nợ. Điều này làm tăng chi phí trả lãi đắt đỏ của đất nước mắc nợ. Tồi tệ hơn, điều này có thể đẩy quốc gia đó vào một cuộc khủng hoảng nợ, và tác động luôn vào các khoản nợ nước ngoài của quốc gia đó.

Tuy nhiên, một tỷ lệ nợ cao so với GDP không hẳn là xấu, miễn là nền kinh tế của đất nước tăng trưởng tốt, vì đó là một cách để sử dụng đòn bẩy tài chính để thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn.

Cũng đừng nên nhầm lẫn giữa "nợ công" (public debt) với "nợ nước ngoài" (external debt). Nợ nước ngoài là số tiền nợ các nhà đầu tư nước ngoài của cả chính phủ và khu vực tư nhân. Nhưng nợ công sẽ có ảnh hưởng đến nợ nước ngoài; cụ thể, nếu lãi suất tăng lên trên nợ công, các chủ nợ cho vay, là các nhà đầu tư, cũng sẽ tăng lãi suất lên cho tất cả các khoản nợ tư nhân. Đó là lý do các doanh nghiệp tư nhân thường gây sức ép buộc chính phủ của họ để giữ nợ công trong một phạm vi hợp lý, để các doanh nghiệp họ có thể vay tiền trên thị trường quốc tế với phân lời thấp, tức là trả lãi suất thấp.

Phạm Quốc Hoàng, William D. Dudley

Quỹ Đầu tư GS Capital Partners (Goldman Sachs - NYSE)

January 8, 2015

Lạm phát của Việt Nam thấp mừng hay lo!(Phạm Quốc Hoàng - William D. Dudley)

Mới đây, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia cho biết, lạm phát tiếp tục được kiểm soát ở mức thấp. Chỉ số giá tiêu dùng Tháng 10 chỉ tăng 3,23% so với cùng kỳ 2013 và 2,36% so với đầu năm (là mức tăng thấp nhất trong vòng 10 năm qua). Thậm chí, lạm phát cơ bản (so với cùng kỳ) ở mức 3,09% trong Tháng 10/2014, tiếp tục xu hướng giảm kể từ đầu năm. Điều đó nên mừng hay lo?

Tuy nhiên, có lý do để lo lắng về những gì đang xảy ra ở Việt Nam. Bởi vì các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam đang đòi hỏi rất nhiều nợ để tiếp tục đạt tăng trưởng cao, một dấu hiệu cho thấy kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng GDP là vẫn còn phải lệ thuộc vào tín dụng cao, nợ nhiều hơn để cần thiết để tạo ra những phần trăm tăng trưởng GDP cao cho những năm tiếp theo.

Một kinh nghiệm mà Việt Nam phải thận trọng khi cựu Chủ tịch của FED, Ben S. Bernanke cảnh báo rằng. Xin trích nguyên văn: “Low inflation is not good for the economy because very low inflation increases the risks of deflation, which can cause an economy to stagnate”. Tạm dịch là: "Lạm phát thấp là không tốt cho nền kinh tế vì lạm phát rất thấp làm tăng nguy cơ giảm phát, mà có thể gây ra trì trệ cho một nền kinh tế". Đấy là ở bên ngoài nước Mỹ, mà hiện nay cả Âu châu và Nhật Bản đang lãnh cái nạn giảm phát còn nguy hiểm hơn lạm phát mà Việt Nam cần chú ý.

Về hiện tượng bất thường của Việt Nam mà giới hữu trách các nhà kinh tế ưa lạm dụng cụm từ là "inflation" (lạm phát). Trong từ "phát", ta cần hiểu thêm trong kinh tế mà ai cũng biết là nạn "giảm phát" (deflation), hay "thiểu phát" (disinflation), hay "suy phát" (stagflation), hay mới đây tại Âu châu người ta lại sáng chế ra một từ "giảm phát" mới đó là "lowflation", để ám chỉ cho khối kinh tế sử dụng đồng EUR, là khối Eurozone. Nội dung có nghĩa là giá cả có tăng mà tăng chậm hơn tiêu chí đề ra. Theo định nghĩa mới này, thuật ngữ "giảm phát" được cho là hơi quá. Như vậy, dù đinh nghĩa như thế nào đi nữa về "lạm phát quá thấp", nó cho thấy, khi một tỷ lệ lạm phát thấp thường đi kèm với một kịch bản tăng trưởng trì trệ, hay dự báo mà kinh tế Việt Nam có thể đang gặp phải.

Tại cuộc họp báo ngày 6/10/2014, về Báo cáo cập nhật khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, WB cho rằng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ước tính khoảng 5,4% trong năm nay và khó có thể vượt qua 5,5% trước năm 2016. Đó là mức tăng trưởng dưới tiềm năng đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam là hiện tượng bất thường.

Cho nên, rõ ràng, với cái đà hiện tại tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thấp hơn nhiều so với các năm trước thì kinh tế Việt Nam đang bị lãnh cái nạn mà trong kinh tế gọi là "disinflation" (thiểu phát), tức là ở giữa hai trường hợp lạm phát và giảm phát. Đó và dấu hiệu tiên báo cho sự xoay chuyển từ lạm phát qua giảm phát (Việt Nam chưa rơi vào giảm phát), là khi đà tăng trưởng sản xuất sút giảm liên tục đi cùng nạn lạm phát, mà dẫn đến hiện tượng trong kinh tế gọi là "suy phát" (stagflation), tức là sản xuất trì trệ đình đốn mà vẫn bị cái bóng của lạm phát đe dọa mà có thể gọi là "lạm phát niềm tin do tâm lý".

Lý do, khi người tiêu dùng thấy hàng hóa có vẻ giảm giá liên tục thì người tiêu dùng tại Việt Nam có xu hướng chờ đợi, tạm hoãn mua để chờ đợi giá sẽ giảm hơn nữa. Khi người tiêu dùng mà chần chừ mua như vậy thì nhà sản xuất bị tồn kho ế ẩm và khi kéo dài thì đến hạn trả nợ ngân hàng nên phải tìm cách bán tháo, có nghĩa là muốn bán còn rẻ hơn nữa. Và dẫn đến hậu quả là cả nhà sản xuất, tức doanh nghiệp và người tiêu thụ dìm nhau trong bế tắc, khiến kinh tế tuy không "suy trầm" (recession), vì tăng trưởng thấp, mà có thể sẽ bị "depression" (suy thoái), là không tăng nữa mà còn giảm. Cho nên, dẫn đến hậu quả là doanh nghiệp sa thải công nhân làm thất nghiệp tăng rồi dẫn đến phá sản hàng loạt của doanh nghiệp khiến nguồn thu ngân sách nhà nước bị hao hụt, kéo theo kinh tế bị tăng trưởng thấp như đã thấy tại Việt Nam mà người ta dự báo.

Hiện nay, các ngân hàng thương mại tại Việt Nam liên tục hạ lãi suất thấp đó là điều tốt, nhưng khi tiền bơm ra lại không đẩy mạnh được vào đầu tư cho sản xuất, và ngân hàng dư thanh khoản vì thiếu doanh nghiệp và người dân đi vay để đưa tiền vào kinh tế, dẫn đến nạn ách tắc thanh khoản, nên các ngân hàng lại đem tiền mua trái phiếu làm nơi trú ẩn an toàn để kiếm lãi. Gặp trường hợp này có thể là vì giới tiêu dùng và các nhà sản xuất vẫn chưa thấy một tín hiệu tin tưởng vì thiếu niềm tin. Cho nên, bây giờ Việt Nam phải khôi phục niềm tin giới tiêu dùng, thay vì lạc quan tếu vì lạm phát giảm.

Phạm Quốc Hoàng - William D. Dudley

Phạm Quốc Hoàng, William D. Dudley (USA)

Như đã nhắc nhiều lần, sau 7 năm thế giới đã quen với đồng USD rẻ. Nguồn The New York Times do Phạm Quốc Hoàng, William D. Dudley (USA) phân tích cách đây nửa năm. Khi đông USD lên giá các rổ ngoại tệ kia bị hạ giá. Ở VN ta hay quen dùng "ổn định tỷ giá USD/VND", hay "điều chỉnh tỷ giá". Việt Nam vẫn úp mở không nói rằng mình phá giá mà chỉ nói là "điều chỉnh tỷ giá". Lối thông tin mập mờ ấy không lừa được thị trường và vì mập mờ, người ta còn chờ đợi sẽ có phá giá nữa. Cho nên VN cần hạn chế những bài báo viết về "điều chỉnh tỷ giá 2% hay bao nhiêu đi nữa". Nếu biết như vậy thì TT Putin của Nga ngố đâu phải nữa đêm bật dậy nâng lãi suất lên 17% để bảo vệ đồng Rúp. Nếu tiền đồng VND có bị mất giá thì đó cũng là quy luật cung cầu thôi, nếu VN nhân cơ hội tiền VND mất giá 2% để gia tăng xuất khẩu, tức là xuất siêu nhiều hơn nhập siêu thì tiền VND sẽ tăng giá trở lại vả dễ ra khỏi khó khăn với nền móng lành mạnh hơn. Còn nếu cứ rui ngủ người dân là "ổn định tỷ giá USD/VND", thì càng bị mất giá, bởi dan VN bây giờ rất khôn ranh, họ cí thể truy cập vào trang báo nước ngoài để biết tỷ giá hối đoái chứ không để tin tức báo một chiều bưng bít thông tin đâu. Bởi giới đầu cơ họ biết cả rồi chứ không dại dột tin theo báo VN đâu.
Anh ta là tỷ phú USD, là cáo già tài chính, nghe đâu đã rút vốn về đầu cơ tại Nhật kiếm lời vì đồng Yên (JPY). Đúng là năm xưa anh ta có viết trên tờ Vneconomy bài báo "Góc nhìn: Bình tĩnh với nợ công", và hiện nay họ có viết trên tờ ACSB "Lạm phát của Việt Nam thấp mừng hay lo!". Link:http://www.acbs.com.vn/.../LegalDocument/PrintReview.aspx..., và tờ TBKTSG http://www.thesaigontimes.vn/.../Gia-xang-dau-giam-va...hay http://www.thesaigontimes.vn/.../Kich-ban-tac-dong-va-ung... kể cat tờ Vietstock về cách đầu tư chứng khoán. Tóm lại, người Việt tại Mỹ vẫn thích truy cập vào tờ Vneconomy và tờ TBKTSG, các bài của Vneconomy họ đăng vẫn chủ yếu phỏng vấn hay lấy nguồn tin của chuyên gia kinh tế, nên họ trích nguyên văn đôi khi nó không hợp bạn đọc nên cũng phải thông cảm cho tờ Vneconomy. Cho nên, phải thông cảm cho tờ Vneconomy, mình thì chuyên trích dẫn nguồn làm bằng chứng rõ ràng. Cụ thể tờ Vneconomy này cũng bị mình dẫn nguồn tin từi báo khác về trang nhà của Vneconomy.

May 4, 2014

Dự trữ ngoại hối khoảng 45 tỷ USD

Ở đây tôi xét rổ dự trữ ngoại hối, nợ nước ngoài, trái phiếu chính phủ 10 năm, và đánh giá tín dụng của những nước trong khối ASEAN là những đối thủ cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam gồm: Thailand, Malaysia, Indonesia, Singapore, Philippines. 

Đầu tiên là Thailand (GDP: 365 tỷ USD, năm 2012): Dự trữ ngoại hối quốc gia này là cỡ 168 tỷ USD (tính đến thời điểm hiện tại là ngày 31/3/2014); nợ nước ngoài tính từ năm 2013 là 140 tỷ USD; kỳ hạn trái phiếu chính phủ 10 năm là cỡ 3,60%; xếp hạng tín dụng của các cơ quan thẩm địn tài chính, cụ thể là Standard and Poor's và Fitch Ratings đánh giá ở thang điểm BBB (dấu cộng, ổn định), Moody's là Baa1 (ổn định), tức là một thang điểm ngang nhau. 

Với Malaysia (GDP: 303,53 tỷ USD, năm 2012): Dự trữ ngoại hối cỡ khoảng 135 tỷ USD (tính đến ngày 31/3/2014); nợ nước ngoài là rất thấp chỉ cỡ chưa đầy 17 tỷ USD mà thôi; kỳ hạn trái phiếu chính phủ 10 năm là cỡ 4%; xếp hạng tín dụng của Malaysia là khá tốt, cụ thể Standard and Poor's và Fitch Ratings đánh giá ở thang điểm A (dấu trừ, ổn định, Fitch cho tiêu cực), Moody's xếp ở thang A3 (ổn định). 

Đối với Indonesia (GDP: 878,04 tỷ USD, năm 2012): Dự trữ ngoại hối đạt gần 103 tỷ USD (tính đến ngày 31/3/2014); nợ nước ngoài cỡ 265 tỷ USD (do quốc gia Hồi giáo này có số dân rất đông, nên chính quyền Jakarta phải dựa vào đầu tư rất lớn để có mức tăng trưởng cao, cũng có nghĩa là phải cần rất nhiều tiền đầu tư nên số nợ mới lớn lao như vậy, nhưng đó không phải là mối nguy rủi ro); lợi suất trái phiếu chính phủ 10 năm với lãi phân lời hơi đắt, khoảng cỡ gần 8%; xếp hạng trái phiếu công trái cũng có rủi ro, cụ thể, Standard and Poor's xếp ở thang điểm BB (dấu cộng, ổn định), Moody's chấm điểm Baa3 (ổn định), Fitch xếp ở hạng BBB (dấu trừ ổn định), và quốc gia này cũng là nước có tỷ lệ lạm phát không kém gì Việt Nam. 

Đối với Philippines (GDP:250,27, năm 2012): Dự trữ ngoại hối nước này đạt gần 80 tỷ USD (tính đến ngày 31/3/2014, do lượng kiều hối tài trợ gửi về nước là rất lớn lao); nợ nước ngoài của xứ này chỉ cỡ 60 tỷ USD; kỳ hạn trái phiếu chính phủ 10 năm cũng rất thấp chỉ cỡ 4,5%; xếp hạng tín dụng là ngang nhau, cụ thể, Standard and Poor's và Fitch Ratings xếp hạng BBB (dấu trừ, ổn định), Moody's cũng xếp như vậy là nấc Baa3 (ổn định). 

Riêng với trường hợp hi hữu là Singapore: Dự trữ ngoại hối tính đến ngày 31/3/2014 của quốc gia năng động dựa vào công nghiệp dịch vụ "ăn huê hồng ở giữa" và không có tài nguyên khoáng sản nhưng lại đạt mức hơn 343 tỷ USD một chút và cũng là quốc gia không mắc nợ ai chu dù đó chỉ là 1 xu lẻ nào cả; trái phiếu quốc trái kỳ hạn 10 năm của Singapore còn an toàn hơn trái phiếu của Mỹ là cỡ 2.43%, thực tế nếu Singapore kẹt tiền đi vay chỉ trả lãi cỡ 1.95% mà thôi. Đánh giá tín dụng của Singapore mà Standard and Poor's, Fitch Ratings, Moody's xếp hạng đạt mức cao nhất là ba chữ A hoa là AAA. Tổng sản phẩm GDP quốc nội năm 2012 đạt 274,70 tỷ USD, nhưng dân số chỉ cỡ 5.399.200 người, cho là 5,4 triệu cư dân chẵn luôn, diện tích rất nhỏ bé chưa tới 1.000 km², chỉ cỡ 716,1 km². 

Sau cung đối với Việt Nam về rổ dự trữ ngoại tệ lớn lao được xác lập là 35 tỷ USD do người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là ông Nguyễn Văn Bình nói, và lạc quan dự phóng trong tương lai gần sẽ là 45 tỷ USD. Đòi hỏi ấy không có gì là quá khó. Tuy nhiên, hiện khối dự trữ ngoại tệ 35 tỷ USD đó các tổ chức thậm định tài chính như Standard and Poor's, Fitch Ratings, Moody's chưa công nhận và chưa niêm yết trên kho lưu trữ của họ. Có nghĩa là các tổ chức thẩm định tài chính này đang phân tích nhiều nguồn trước khi lưu trữ 35 tỷ USD dự trữ này của Việt Nam vào sổ sách. Cho nên nếu Việt Nam bây giờ có nói là đã có trong tay hơn 100 tỷ USD, hay 500 tỷ USD dự trữ thì cũng chả sao. 

Nhưng một điều chắc chắn là, khi Việt Nam tích lũy khối dự trữ ngoại tệ 35 tỷ USD lớn lao như vậy trong mục đích đầu tư thì giới phân tích tài chính tự hỏi là về cơ cấu và tỷ phần của khối dự trữ này. Chẳng hạn như Việt Nam đang giữ bao nhiêu phần trăm dưới dạng vàng, USD, EUR, JPY (Nhật), Nhân dân tệ Trung Quốc (CNY)..v..v... bao nhiêu dưới dạng ngoại tệ khác, mà phải là ngoại tệ nào nữa? Và khi tích lũy dưới dạng tài sản của nước khác như vậy thì bao nhiêu là cổ phiếu, bao nhiêu là trái phiếu? Vì dự trữ ngoai tệ có thể bị hao hụt do lên xuống của giá trị các đồng tiền đó, cũng như phân lời của trái phiếu..v..v...

Riêng đối với đánh giá nợ nước ngoài, dự trữ ngoại tệ, phân lời trái phiếu kỳ hạn 10 năm, cũng như đánh giá thẩm định tín dụng của Việt Nam có lẽ tôi không cần phân tích, thì ai cũng đều biết rõ cả. Tuy nhiên nếu nhìn ra bên ngoài từ kinh nghiệm từ vụ khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 - 2009, khi mà Trung Quốc nắm giữ và đầu tư một khối lượng dự trữ lớn lao tài sản Mỹ bằng hình thức này hay hình thức kia như đồng USD, cổ phiếu, trái phiếu tư nhân và công khố phiếu chính phủ Mỹ, thì Trung Quốc mất toi cả mấy trăm tỷ USD do tài sản Mỹ mất giá. Trái phiếu quốc trái của Mỹ năm 2008 bị đồn đoán suýt biến thành "junk bond", hay "giấy lộn" càng làm tài sản Mỹ trượt giá và xóa sổ sạch sẽ mấy năm tích cóp tài sản của Trung Quốc cho Mỹ vay mượn.

April 15, 2014

Blog CK(Phạm Quốc Hoàng USA)_1

Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay đang bị mắc kẹt sự hoài nghi thanh khoản gia tăng đột biến rồi lại co cụm lại và hay có phản ứng mà dân trong nghề gọi là "herd mentality" (tâm lý bầy đàn). Bởi vì "Khi có quá nhiều tiền trong thị trường chứng khoán, nó có thể là một dấu hiệu cảnh báo rằng mọi thứ đang thay đổi". 

Khi thị trường chứng khoán có một vài mã "blue chip" được hưởng thanh khoản lớn có sự bổ nhào cắm mũi xuống đất là sụt giá nặng một vài phiên do nhà đầu tư bán tháo, các nhà đầu tư chứng khoán bắt đầu đi mò đáy. Thực tế của việc đầu tư vào thị trường chứng khoán là giá cả sẽ đi lên và giá sẽ đi xuống là bình thường. Nếu có vài mã "blue chip" có vốn hóa lớn có thể bị phá hủy, trở thành cổ phiếu penny là cũng không có gì lạ đối với nhóm cổ phiếu "blue chip" này mà tôi ngần ngại liệt kê ra. 

Giống như bất kỳ thị trường nào, nơi có người mua nhiều hơn người bán, giá cả tăng lên cho đến khi các nhà đầu tư chuyên nghiệp bắt đầu kéo tiền của họ ra khỏi thị trường và các giá trị cổ phiếu đó bị rơi tự do vì không tìm được lực mua hay vì "đáy vẫn còn nông" chưa rơi xuống sâu hơn. 

Tuy nhiên ở đây tôi cần nhấn rằng, đừng chỉ vì một chứng khoán là giá rẻ đã xác định đực mức đáy, không có nghĩa là bạn nên mua nó. Nhiều nhà đầu tư thích Tỷ lệ PEG, thay vào đó, bởi vì nó yếu tố trong tốc độ tăng trưởng. Thậm chí tốt hơn là chia cổ tức điều chỉnh tỷ lệ PEG. 

Khi các nhà phân tích hoặc chuyên gia nói về một chứng khoán là "quá đắt" hay "quá rẻ", chúng thường được đề cập đến như thế nào giá trên mỗi cổ phiếu liên quan đến thu nhập. 

Nói cách khác, là giá mỗi cổ phiếu của các cổ phiếu phù hợp với thu nhập trên mỗi phần? Tỷ lệ giá / thu nhập là một trong những tính toán thường được trích dẫn các nhà đầu tư xem xét khi mua một cổ phiếu. 

Câu thần chú là thông thường của nhà đầu tư là "P / E cao bằng cổ phiếu đắt đỏ; P / E thấp bằng cổ phiếu mặc cả.". 

Thật không may, nó không phải là khá đơn giản như các nhà đầu tư nghĩ. Cụ thể, để tính toán P / E, bạn cần một con số khác: Chẳng hạn, thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) này được tìm thấy bằng cách chia số tiền thu nhập của số lượng cổ phiếu lưu hành. Ví dụ, nếu một công ty có 5 $ trong thu nhập cho 12 tháng qua và đã có 10 cổ phiếu, EPS sẽ là $ 0,5. $ 5 / 10 = 0,5 $ 

Một cách khác để nói rằng đây là mỗi cổ phần của cổ phiếu tạo ra 0,5 $ trong thu nhập. Đây là một thu nhập tốt hay xấu trên mỗi cổ phiếu? Nếu các công ty khác trong lĩnh vực này cùng một công nghiệp có số EPS đó là khác nhau đáng kể, bạn có thể có cơ sở để so sánh. Một EPS cao hơn cho thấy công ty đang tạo ra nhiều hơn $ 0,5 cho mỗi cổ phần trong thu nhập, vì vậy bạn có một nhận được nhiều hơn cho đồng tiền đầu tư của bạn. 

Một khi bạn có EPS, tính toán P / E bằng cách lấy giá cổ phiếu và chia cho EPS. Ví dụ, nếu cổ phiếu của một công ty là $ 22 mỗi cổ phần và EPS là $ 0.5, chỉ số P / E sẽ là 44. $ 22 / $ 0.5 = 44. Từ ví dụ trên ta đánh giá rằng cổ phiếu này quá mạo hiểm vì nó là một bong bóng không có thu nhập tiềm năng đã được chứng minh. 

Nhiều nhà đầu tư tin rằng P / E nên được xem xét trong mối quan hệ với tăng trưởng dự phóng trong tương lai. Sau khi nghiên cứu tất cả, các nhà đầu tư trả giá cho sự tăng trưởng và lợi nhuận trong tương lai, và P / E là một phép đo của quá khứ. Để giải quyết vấn đề này, nó là hữu ích để xem xét một tỷ lệ lợi nhuận, các P / E và độ tăng trưởng (PEG). Vì cần nhớ rằng PEG là mong muốn tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai là dài hạn. 

Chính vì thế mà PEG được tính bằng cách lấy thu nhập ước tính về phía trước nhất, có sẵn từ các báo cáo phân tích phân chia đó vào P / E. Nếu giả dụ Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam là Vinamilk (HOSE: VNM) đã có một tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận dự kiến là 15% trong hai năm tiếp theo, PEG của nó sẽ là 2,93: P / E của 44 / EPS tăng trưởng 15 = 2.93 là mức khá hấp dẫn (Ở đây tôi không quảng cáo cho mã chứng khoán VNM của Vinamilk, mà chỉ lấy ví dụ). 

Mặt khác, khi nền kinh tế đang khó khăn hoặc hầu như không phát triển, và lợi tức của người dân rơi vào "bẫy thu nhập trung bình" bởi hệ lụy mà nó mang đến là người dân phải nằm im với con số thu nhập GDP bình quân đầu người kém cỏi mỗi năm, hay trong nhiều năm liền dẫn đến sức tiêu thụ kém của thị trường, thì các nhà đầu tư chứng khoán phải xem xét nơi để đặt tiền của họ. 

Nếu họ là nhà đầu tư dài hạn và họ không cần phải có lợi nhuận nhanh chóng, các nhà đầu tư chứng khoán xem xét để cổ phiếu có tính chu kỳ, có thể là dưới giá, nhưng sẽ cung cấp cho bạn khá nhiều tiền tiềm năng tăng trưởng khi nền kinh tế được cải thiện. Và chỉ thích hợp với nhà đầu có tài chính mạnh. Cụ thể đặt câu hỏi: "Bao nhiêu tiền bạn có trong ngân hàng?". Chứ không áp dụng cho câu hỏi ngược là "Bao nhiêu tiền trả lãi lẫn vốn mà bạn vay ngân hàng để chơi stock khi mò đáy bởi cổ phiếu rẻ?".