Showing posts with label Kinh tế vĩ mô. Show all posts
Showing posts with label Kinh tế vĩ mô. Show all posts

April 11, 2015

Phương Thơ(P6)



Tác giả MINH ĐỨC, tờ VnEconomy cần hiều rằng, về nghiệp vụ ngân hàng, đối với nền kinh tế tăng trưởng bình thường, hệ thống tài chính không gặp vấn đề nợ xấu, lãi suất cho vay ngắn hạn cao hơn lãi suất cho vay dài hạn. Ngược lại, trong một nền kinh tế mà Việt Nam phải đối mặt rơi vào tình trạng trì trệ vì rủi ro nợ xấu, thì mức lãi suất vay ngắn hạn có thể thấp, và lãi suất cho vay ngắn hạn có thể buộc phải thấp hơn lãi suất cho vay dài hạn.

Bởi vì, cần hiểu rằng, trong quá khứ, các doanh nghiệp nhỏ đã tồn tại và đã phá sản chủ yếu dựa trên sức mạnh của "các khoản vay ngắn hạn" (short-term loans). Nên nhớ, các khoản vay ngắn hạn chủ yếu lại là nguồn cơ bản của tài chính doanh nghiệp nhỏ. Khi nền kinh tế rơi vào trì trệ, điều này phần nào thay đổi các khoản cho vay khi các ngân hàng trở nên dè dặt thận trọng hơn để cho vay và các ngân hàng đã bắt đầu xem xét nguồn tài chính cho vay để thay thế các doanh nghiệp nhỏ. 

Chính vì điều này, hiện nay các ngân hàng tại Việt Nam than vãn ứ đọng tiền mà chả tìm được khách hàng vay, bởi lẽ các khoản vay lớn của các tập đoàn kinh tế Nhà nước tại Việt Nam vẫn chủ yếu là các khoản vay dài hạn, nên khách hàng vay mượn vẫn là những gương mặt cũ, hoặc nếu có vay đi nữa thì đa số là vay đảo nợ hay đầu tư ngoài ngành nên thường đưa đến nợ xấu khó đòi, và giải thích tại sao các ngân hàng ít khi cung cấp tài chính dài hạn cho các doanh nghiệp nhỏ.

Các doanh nghiệp nhỏ thường rất cần các khoản vay ngắn hạn thay vì vay nợ dài hạn như các Tập đoàn, các Tổng công ty doanh nghiệp Nhà nước mà các ngân hàng tại Việt Nam ưa cho vay mà cũng ít thẩm định rủi ro vì tin rằng Nhà nước sẽ cấp cứu bằng mọi giá vì tin rằng "quá lớn để sụp đổ" (too big to fail), nếu các doanh nghiệp này mất khả năng thanh toán. Hầu hết các khoản vay ngắn hạn, phân loại là ngắn hạn, thường có kỳ hạn một năm hoặc ít hơn. Những khách nợ, họ phải được hoàn trả cho bên cho vay trong vòng một năm. Hầu hết các khoản vay ngắn hạn thường được trả nhiều hơn nữa một cách nhanh chóng hơn, thường trong vòng kỳ hạn 120 ngày trở xuống đến 90 ngày. 

Khoản vay ngắn hạn với kỳ hạn ngắn có thể giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ đáp ứng một nhu cầu cấp thiết về tài chính mà không yêu cầu doanh nghiệp thực hiện một cam kết lâu dài. Chẳng hạn như thể hiện tiền nợ cho người lao động như trả tiền lương và tiền thưởng mà công ty chưa thanh toán..v..v...




---




Câu hỏi của Huy Quang rất hay. Chính vì vậy, cho nên, VN phải rà soát chỉnh sửa hay viết lại luật tín dụng, bởi các luật tín của VN hiện nay như chị đã đọc qua, nó đã quá lạc hậu của mấy thập niên trước không còn phù hợp nữa. Chị đã làm việc tại ngân hàng đầu tư Morgan Stanley cả chục năm và nhận thấy. Luật tín dụng của VN chỉ phù hợp ở thập niên những năm 2.000. Nghiệp vụ ngân hàng của VN không cải tiến gì cả để theo kịp những phát minh tinh vi của khí cụ đầu tư, và đầu cơ tài chính, ngay cả công cụ đo lường các hoạt động tài chính là lãi suất liên ngân hàng LIBOR mà một chuyên gia kinh tế VN viết trên báo đều diễn giải sai. Thí dụ như Ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại tại VN đều là một, và nằm dưới quyền duy nhất của Ngân hàng Trung ương (VN gọi là NHNN), tức là họ có thể đầu tư chứng khoán, kiêm vai trò huy động vốn cho vay thương mại...

Tại Mỹ, ngân hàng đầu tư là do Hội đồng Giao dịch Chứng khoán SEC kiểm soát chứ không phải Ngân hàng Trung ương kiểm soát. Một nhân viên hay một nhà môi giới chứng khoán tại Mỹ, họ có thể phân tích bất kỳ những vẫn đề tài chính hay chứng khoán. Nếu VN không cải tiến thì khó có thể theo kịp đà phát triển công cụ nghiệp vụ tài chính này để thúc đẩy doanh nghiệp dễ tiếp cận vốn vay. Bởi lẽ với một đất nước đang phát có số dân trẻ với 90 triệu cư dân thì VN phải cần rất nhiều nợ để đạt những phần trăm tăng trưởng cao nhằm nâng cao mức sống của người dân nên doanh nghiệp VN phải dựa vào vốn vay ngân hàng là rất lớn. Chả ai tự vỗ ngực cho rằng trong đời chưa từng đi vay mượn ai để lấy "đòn bẩy tài chính" (financial leverage) cho sự của sự phát triển các doanh nghiệp mình cả.

Tiền chảy vào đâu khi Fed nâng lãi suất?


Tiền chảy vào đâu khi Fed nâng lãi suất?
Fed sẽ làm thế nào để thu hồi về hơn 4,000 tỷ USD trong gói kích thích bơm vào nền kinh tế Mỹ? Đâu là rủi ro và cơ hội cho giới đầu tư khi Fed nâng lãi suất "Fed Funds Rate" trong thời gian tới?


Để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng nhất kể từ thời kỳ Đại suy thoái thập niên 1930, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã lần lượt tung ra các gói Nới lỏng định lượng QE1 (tháng 12/2008), QE2 (tháng 11/2010 - tháng 6/2011) và QE3 (tháng 9/2012).

Bây giờ, Fed sẽ làm gì sau nhiều năm giữ vai trò vừa là "người phóng hỏa" vừa kiêm luôn vai trò là "sở cứu hỏa". Fed sẽ làm thế nào để thu hồi về hơn 4,000 tỷ USD trong gói kích thích bơm vào nền kinh tế Mỹ? Đâu là rủi ro và cơ hội cho giới đầu tư khi Fed nâng lãi suất "Fed Funds Rate" trong thời gian tới?

1. Rủi ro tỷ giá khi Mỹ nâng lãi suất

Lần đầu tiên sau gần một thập niên, kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng suy thoái (recession), tức là tăng trưởng chậm hơn trong hai quý liền từ tháng 12/2007. Một trong những nguyên nhân là sự đình trệ của thị trường nhà đất tại Mỹ từ năm 2006 và nạn bể bóng tín dụng thứ cấp sau đó. Khi ấy, từ tháng 6/2006 đến tháng 12/2007, Fed đã hạ lãi suất ngắn hạn từ 5.25% xuống còn 4.25% (giảm 4 lần bắt đầu vào tháng 8); và từ tháng 10/2008, liên tục hạ lãi suất ngắn hạn xuống 1%. Đến ngày 16/12/2008, lãi suất còn được hạ tới mức cực thấp là từ 0% đến 0.25%.

Các nhà đầu tư cần hết sức thận trọng phân biệt các loại lãi suất tại Mỹ, đó là lãi suất ngắn hạn và dài hạn, để tính toán rủi ro khi đầu tư vào tiền tệ hay cổ phiếu cũng như trong sản xuất kinh doanh.

Lãi suất ngắn hạn thì do Fed, tức là Ngân hàng Trung ương Mỹ quyết định. Đây là lãi suất cơ bản, thường được gọi là "Fed Funds Rate", là cơ sở để các ngân hàng và doanh nghiệp tài chính tính toán cho khách hàng của mình. Khi tăng hay hạ lãi suất ấy, Fed gián tiếp tác động vào tiêu dùng hay đầu tư sản xuất tại Mỹ cũng như các thị trường khác trên thế giới, trong đó Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Hiện nay, Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) vẫn duy trì lãi suất ngắn hạn từ 0.25%. Trong quá khứ, lãi suất cơ bản của Mỹ có lúc lên đến 20% vào những năm 1980-1981. Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997, lãi suất cơ bản của Mỹ là 5.5%, giai đoạn bong bóng Dot-com bị vỡ thì Fed Funds Rate là 6.6%.

Trong khi đó, lãi suất cho vay dài hạn tại Mỹ được thả nổi cho thị trường quyết định theo các tiêu chuẩn cung cầu, lợi suất trái phiếu và mức an toàn, tức là khả năng hoán đổi trái phiếu (tờ giấy nợ) ra thành tiền mặt nhanh chóng. Bởi lẽ, nếu đồng USD mạnh lên sẽ tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của các quỹ trái phiếu quốc tế (vì giá trị của các loại ngoại tệ giảm). Đồng USD là một nơi trú ẩn an toàn trong bất kỳ cuộc khủng hoảng toàn cầu nào. Điều đó có nghĩa là nhà đầu tư mua trái phiếu Mỹ để tránh rủi ro khi kinh tế Mỹ phục hồi từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

Chi tiết rất chú ý và đáng ngại là hơn 85% các giao dịch ngoại hối liên quan đến đồng USD. Hơn nữa, khoảng 39.7% nợ của thế giới được phát hành bằng đồng USD. Kết quả là các thị trường tài chính, các ngân hàng nước ngoài cần rất nhiều USD để giao dịch cũng như thanh toán nợ nần. Dự trữ ngoại tệ của ngân hàng trung ương các nước trên thế giới có đến 61% bằng USD.

Thực tế là đồng USD chưa cần tăng giá mà chủ yếu các đồng tiền mạnh khác như đồng EUR, đồng JPY (Nhật)... bị sụt giá so với đồng USD, thì giới đầu tư trên thế giới đã ào ạt bán các khoản nợ bằng nội tệ để mua USD để đầu tư vào Mỹ, và đang gây thêm biến động cho thị trường tài chính và chứng khoán của nhiều nước trên thế giới. Đối với những nước đi vay bằng đồng USD mà tài trợ lãi bằng đồng nội tệ hay vay ngắn hạn bằng đồng USD để tài trợ các dự án dài hạn, khi đồng USD tăng giá thì các khoản vay mượn sẽ đắt hơn.

Thị trường chứng khoán Việt Nam cũng đã bị ảnh hưởng ít nhiều từ động thái bán tháo liên tục của nhà đầu tư nước ngoài, khiến cổ phiếu rớt giá và thanh khoản cũng sụt theo chỉ trong một tuần giao dịch cuối tháng 3/2015. Lý do là vì giới đầu tư muốn đầu tư vào trái phiếu của Mỹ (và bán tháo cổ phiếu các công ty Mỹ dựa vào xuất khẩu do đồng USD tăng giá).

2. Rủi ro dòng vốn khi châu Âu duy trì lãi suất âm và in tiền qua QE

Ngày 22/01/2015, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tuyên bố họ sẽ bắt đầu mua 60 tỷ EUR trái phiếu bằng đồng EUR mỗi tháng kể từ tháng 3. Đồng EUR ngay lập tức giảm giá. Nếu tại châu Âu, tiền nhiều và đi vay dễ thì trị giá trái phiếu sẽ tăng mà lợi suất lại giảm.

Quyết định đó của ECB đã gây chấn động cho các thị trường tài chính toàn cầu, gây áp lực lên giá trái phiếu. Trong khi đó, việc này lại khuyến khích nhà đầu tư dồn tiền trở lại để đầu tư vào cổ phiếu, kéo theo đà tăng giá chứng khoán của các nước Liên minh châu Âu (EU). Cụ thể, DAX - chỉ số thị trường chứng khoán đại diện cho khoảng 80% giá trị vốn hóa thị trường niêm yết ở Đức - chạm mức cao nhất mọi thời đại tại 12,167.72 điểm trong tháng 3/2015, chỉ số CAC 40 của Pháp cũng tăng lên 5,034.06 điểm trong tháng 3 từ mức thấp nhất trong tháng 02/2015 là 4,951.48 điểm. Dù vậy, đây chưa phải là đỉnh cao nhất mọi thời đại của CAC 40. Được biết, chỉ số này đã xác lập mức cao nhất từ trước đến nay tại 6,922.33 điểm vào tháng 9/2000 và giới đầu tư dự đoán nó sẽ phá đỉnh năm 2000,...

Chi tiết đáng chú ý, khi đồng EUR trượt giá thì các nhà đầu tư từ Mỹ, Trung Quốc và một số nước có dự trữ lớn ngoại hối bằng đồng USD sẽ nhân cơ hội đầu tư thẳng vào các doanh nghiệp châu Âu, hoặc bỏ tiền mua đứt các doanh nghiệp hoặc qua các thương vụ M&A. Cụ thể mới đây Tập đoàn Hóa chất Quốc gia Trung Quốc (ChemChina) chi 7.7 tỷ USD thâu tóm một công ty lốp châu Âu là hãng sản xuất lốp xe Pirelli của Italy,...

3. Rủi ro giá vàng khi lãi suất ngắn hạn tại Mỹ tăng

Ít có gì lại có sức quyến rũ sáng chói như vàng, nhất là trong thời buổi kinh tế khó khăn đầy biến động. Cũng có lắm cơ hội để đầu tư, và vàng được xem như là một loại tài sản để chống lại xói mòn đồng bạc, vì tiền được in ra quá nhiều trên thế giới, trừ trường hợp của Mỹ là đang thu hồi lượng tiền bơm ra.

Về mặt quy luật kinh tế, ngược với lý luận của nhiều người, không phải giá vàng đã chi phối trị giá đồng USD mà trái lại, tỷ giá đồng USD mới ảnh hưởng đến giá vàng. Giá vàng thường tăng giảm ngược chiều với đồng USD.

Giá vàng là một chỉ số theo dõi tốt về sức khỏe nền kinh tế Mỹ. Khi giá vàng cao, đó là khi nền kinh tế Mỹ không lành mạnh. Tại sao vậy? Nhà đầu tư đổ xô đầu tư vào vàng khi họ muốn bảo vệ các khoản đầu tư tránh khỏi ảnh hưởng từ khủng hoảng hay lạm phát. Khi giá vàng giảm, thường có nghĩa là nền kinh tế Mỹ đang lành mạnh. Đó là bởi vì nhà đầu tư giàu kinh nghiệm đã bán vàng để tìm kiếm các khoản đầu tư sinh lời hấp dẫn hơn, như là đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu hay bất động sản...

Trong quá khứ, vào ngày 05/9/2011, vàng đạt mức cao nhất mọi thời đại là 1,895 USD/oz. Lý do xuất phát từ báo cáo việc làm yếu kém tại Mỹ cũng như cuộc khủng hoảng nợ chồng chất tại khu vực đồng EUR và khủng hoảng trần nợ công của Mỹ.

Theo một báo cáo nghiên cứu từ Trinity College, tất cả nhà đầu tư lão làng giàu kinh nghiệm đều phải có ít nhất một số vàng trong danh mục. Báo cáo cho thấy lý do tốt nhất để mua vàng là xem kim loại quý như một hàng rào chống lại sự sụp đổ tiềm năng của thị trường chứng khoán.

Có thể lấy mức 1,300 USD/oz làm điểm cản và 1,200 USD/oz làm điểm hỗ trợ của giá vàng hiện nay (dù giá vàng có thấp hơn điểm hỗ trợ này). Giới đầu tư dự đoán nếu đến mùa Thu năm nay, khi Fed nâng lãi suất mà giá vàng vượt qua được điểm chặn 1,300 USD/oz thì vàng sẽ vọt lên 1,620 USD/oz, ngược lại nếu cứ chập chờn quanh điểm hỗ trợ 1,200 USD/oz thì theo dự đoán George Soros đã nói xưa kia: "Vàng là bong bóng cuối cùng" và sẽ tuột dưới 1,000 USD/oz.

4. Rủi ro cũng như cơ hội của thị trường chứng khoán Việt Nam

Khi đồng USD tăng giá, giới tiêu dùng và các nhà nhập khẩu Mỹ cũng như các nước có đồng nội tệ mạnh sẽ nhân cơ hội này mà chi tiêu, nhập khẩu các mặt hàng của các nước dựa vào xuất khẩu có đồng nội tệ bị suy yếu, trong đó cơ hội đang thuộc về doanh nghiệp Việt Nam trong các lĩnh vực như thủy sản, đồ gỗ, hàng tiêu dùng,...

Đối với thị trường chứng khoán, cơ bản vẫn là việc "mở room" cho các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ cổ phần, kể cả 100% cho một số lĩnh vực mà mới đây Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước công bố. Nếu điều này diễn ra thì trên thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ sớm xuất hiện nhiều đại công ty có tầm vóc quốc tế như trường hợp của Vinamilk (HOSE: VNM).

Trái với nhận định bi quan về thị trường cổ phiếu Việt Nam, nếu trong mùa Thu năm 2015, khi Fed tăng lãi suất ngắn hạn, theo nhận định của chiến lược gia phân tích tài chính toàn cầu Roger Nightingale tại Pointon York cho hay, các dòng vốn đầy tiềm năng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Mỹ sẽ chảy lại các thị trường mới nổi, trong đó có thị trường chứng khoán Việt Nam. Nguồn vốn FDI cũng sẽ rất lớn, bởi lẽ một trong những công cụ tốt nhất một quốc gia có thể sử dụng để khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài là các hiệp định thương mại tự do, mà Việt Nam sẽ ký kết trong năm 2015 này.

Tuy nhiên, thông thường để thu hút FDI hay cả vốn "tiền nóng" trên thị trường chứng khoán của giới đầu tư nước ngoài nhiều hơn nữa, thì mặt bằng lãi suất của Việt Nam phải duy trì thấp. Mặc dù điều này làm tăng lạm phát nhưng nó lại giúp kinh tế tăng trưởng mạnh hơn.

Phạm Quốc Hoàng - William D. Dudley

April 4, 2015

Phá giá VND ảnh hưởng như thế nào tới thị trường chứng khoán VN



Sau một loạt bài viết về thị trường được rất nhiều NĐT quan tâm, có một câu hỏi mà rất nhiều NĐT hỏi riêng tôi là “Vấn đề tỷ giá có ảnh hưởng như thế nào đến chứng khoán không?”. Hôm nay thông qua bài viết này xem như tôi muốn giải thích chung cho tất cả mọi người luôn.


​​

Hinh: Biểu đồ sức mạnh đồng USD
-Hai nguyên nhân trên là nguyên nhân về mặt bản chất kinh tế, còn về yếu tố đằng sau thì rất nhiều, mà ở đó Mỹ cân nhắc thiệt hơn từ việc làm đồng USD tăng giá.
+ Thứ nhất, Mỹ muốn phát ra tín hiệu cho các tập đoàn của Mỹ phải từ từ rút vốn về tái thiết lại nước Mỹ hung mạnh. Và tới đây sẽ có một cuộc khủng hoảng mới và người Mỹ sẽ ít chịu ảnh hưởng.
+ Thứ hai, Mỹ cân đối liệu việc USD lên giá có làm cho NGA và TQ lo lắng với vấn đề này hay không. Cái này thì MỸ đã tính toán thiệt hơn, xem liệu những khoản dự trừ USD và những khoản vay các nước bằng USD cái nào hơn => phần lợi thuộc về MỸ, trả ít nợ hơn, nước khác nợ Mỹ thì phải khó khan hơn trong vấn đề trả nợ.
+ Vấn đề XK của Mỹ bị thiệt hại đã được cân đối với NK và các dòng vốn đổ vào MỸ đầu tư, và Mỹ sẽ vẫn có lợi.

Việt Nam có nên phá giá hay không?
Tôi không muốn phân tích quá xâu theo chiều hướng kinh tế, cái này các bác có thể đọc ở báo chí thì rõ hơn. Tôi chỉ nói sơ lược qua vài điểm chính như sau:
-VN đang cân đối giữa XK và NK xem tỷ trọng cái nào lớn hơn và lâu nay thì chính sách vẫn là yêu tiên XK, do đó phá giá VND là điều nên làm. Trong ngắn hạn thì Chính Phủ cân nhắc tới cơ cấu xuất khẩu, xem liệu mặt hàng xuất khẩu thực chất không tính khu vực FDI của chúng ta là bao nhiêu => thấy rằng XK đang ít hơn nhập khẩu (bản chất xuất khẩu tỷ trọng lớn của FDI)
-Chính phủ muốn phá giá hay không còn xét trên toàn cảnh mục tiêu vĩ mô của Chính Phủ đang muốn làm gì, năm nay họ muốn giữ vĩ mô ổn định nhằm nhiều mục tiêu phát triển thị trường, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển =>do đó muốn giữ.
-Áp lực của dòng vốn ngoại rút về nước đang rất là cao, liên tục đang nhập siêu trong mấy tháng đầu năm, cộng với việc nhiều nước phá giá ngoại tệ của họ cũng làm hàng hóa VN đắt đỏ hơn => phá giá VND.
Những phân tích trên đây chỉ mang tính chất kinh tế, nếu mọi người đọc thì chẳng hiểu vì sao NHNN không phá giá đi, có lợi thế cơ mà? Phần tiếp theo mới nói lên vấn đề thực sự.






Chart: Mức độ mất giá euro và yên so với USD, VND đang neo khá chặt

Phá giá VND ảnh hưởng như thế nào tới thị trường chứng khoán và khi nào mới phá giá?
-Thứ nhất, thị trường VN ảnh hưởng rất lớn bởi dòng vốn ngoại, trong đó dòng vốn đầu cơ ngắn hạn cũng chiếm tỷ trọng rất cao, và dòng vốn này ra vào thị trường rất nhanh chóng. Ngay khi dòng vốn này nhận thấy VN không thể nào giữ nguyên tỷ giá trong khi áp lực tăng giá ngày một cao => Họ lập tức bán các tài sản thanh khoản khác (trong đó có chứng khoán), chuyển qua đầu cơ USD, và nếu NHNN phá giá thì ngay lập tức họ có khoản lợi khổng lồ.
-Thứ 2, NHNN đang cần nhắc tới các vấn đề nợ công và đảo thêm những khoản nợ mới, cộng với việc họ biết được khối ngoại đang tập chung đầu cơ vào tỷ giá => NHNN cố gắng dung tất cả các nguồn lực để giữ tỷ giá ổn định, giảm chi phí cơ hội của nhóm đầu cơ tỷ giá kia, và tranh thủ thực hiện tái cơ cấu các khoản nợ công.
-Xét trên vấn đề lợi ích nhóm thì ngân hàng cũng cân nhắc xem lợi ích từ bên nào cao hơn, có hay không cố gắng kìm chế để giúp đỡ các tập đoàn NN tái cơ cấu nợ, hay phá giá để các tổ chức quốc tế quay lại đổ tiền vào đầu tư tiếp. Nếu bên nào lợi ích hơn thì sẽ làm

Phá giá VND ảnh hưởng như thế nào tới thị trường chứng khoán
-Với tính toán như thế nào thì việc phá giá mạnh VND sẽ phải được thực hiện trong năm nay (không phải bằng 1% còn lại) và điều này thực chất làm cho dòng vốn ngoại rút ra thị trường thời gian gần đây quay lại thị trường, ngoài ra còn thu hút thêm những vốn đầu cơ ngoại mới. Đơn giản vì:
Một quỹ ngoại đầu tư 1tr USD vào HAG, tức là 1tr cp HAG (giả sử tỷ giá là 21.5kđ/usd và giá hag là 21.5k), tôi thấy khả năng phá giá VND ngay lập tức tôi bán HAG lấy tiền đổi ra USD.
Nếu giờ phá giá VND khoảng 2% lên 22kđ/usd => 1tr USD bây giờ tôi có thể mua được hơn 1.02tr cp HAG (giả sử giá không đổi) => Thu khoản lợi từ việc hoán đổi này.
ðVậy thì chắc chắn tôi không cần biết phá giá ảnh hưởng như thế nào đến vĩ mô, nhưng tôi thấy rằng vốn ngoại đã rút sẽ quay lại mua ròng cổ phiếu VN vì nó rẻ tương đối hơn.
ðVấn đề khối ngoại muốn rút đi sẽ được hạn chế, và vấn đề mua ròng lại quay lại và có hiệu ứng tích cực lên thị trường

Khi nào mới phá giá?
-Với những lập luận lợi ích nhóm ở trên thì tôi nghĩ NHNN sẽ cố gắng giữ tỷ giá thêm một thời gian để:
+ Một là cho vốn đầí cơ tỷ giá của NN bị mất chi phí cơ hội
+ Hai là, tranh thủ cho các tập đoàn tổ chức và nhà nước cơ cấu các khoản nợ có lợi.
ðDo đó thời gian cho phá giá sẽ nằm ở cuối năm cỡ tháng 9 – 12/2015
ðTuy nhiên, theo cá nhân tôi nhận thấy áp lực đang rất là căng, và NHNN không còn đủ công cụ để can thiệp giữ tỷ giá được nữa => phá giá sớm hơn khoảng tháng 7

April 1, 2015

Phương Thơ(P5)

TTCK VN như cỗ xe đạp, nếu cho uống "sâm bổ" thì xe chạy nhanh và tăng giá, tức là dựa vào "đòn bẩy tài chính" (financial leverage), tức là "vay vốn kinh doanh của các ngân hàng thương mại" (business loans from commercial banks), ngược lại, nếu không có "sâm bổ" thì xe dừng chạy và đổ ngã. Về phân tích chuyên môn lính vực tài chính và suy ngược ra phân tích chứng khoán. Bối cảnh hồ sơ rộng hơn, nếu nhìn ra bên ngoài. Từ tháng 12 năm 2008 cho đến nay, tức là đã qua 7 năm, Fed, vẫn dùy trì lãi suất cơ bản "Fed Funds Rate" là 0,25% (lãi suất này tính toán cho giới kinh doanh và thân chủ vay và ký thác tiền gửi). Hiện nay, Mỹ chưa tăng lãi suất ngắn hạn này vậy mà các chủ nợ và giới đầu tư nước ngoài đã có động thái bán tháo các khoản nợ yết giá bằng đồng nội tệ của các quốc gia để mua vào đồng USD, tuy chưa gây biến động cho thị trường hối đoái quốc tế. Bởi vì giới đầu tư họ muốn đầu tư vào trái phiếu của Mỹ để kiếm lời và tìm hầm trú ẩn an toàn để bảo vệ tài sản của họ.

Đối với các TTCK của các nước khác trên thế giới, biến động thị trường hối đoái những nước đi vay trả lãi bằng đồng USD rẻ năm xưa, mà tài trợ lãi ở nhà bằng đồng nội tệ, hay vay ngắn hạn bằng đồng USD để tài trợ các dự án dài hạn là khi đồng USD nhúc nhích tăng giá là rất dễ bị rủi ro về ngoại hối, và dẫn đến sự sụt giá cổ phiếu là rất lớn bởi sự bán tháo của các nhà đầu tư nước ngoài.

Với TTCK VN, như tôi tính toán dựa theo con số thống kê của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), đã cho thấy giới đầu tư nước ngoài đã liên tục bán ròng tới 1.700 tỷ VND trái phiếu Chính phủ để chốt lời và rút vốn khỏi VN, đây là mức cao nhất trong 4 tháng trở lại đây. Cuối năm ngoái nhà đầu tư nước ngoài cũng liên tục chốt lời trái phiếu dẫn đến đợt rút vốn trị giá hàng trăm triệu USD, dẫn đến sự sụt giá cổ phiếu là điều không tránh khỏi.

Ở đây tôi muốn nhấn mạnh, rằng: Nếu như các nhà đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục bán mạnh các khoản nợ yết giá bằng đồng nội tệ của VN, nó có thể ảnh hưởng đến biến động tỷ giá VND/USD cũng như thị trường cổ phiếu chứng khoán VN sẽ còn sụt giá mạnh vào mùa Thu năm nay nếu Fed nâng lãi suất nền "Fed Funds Rate", chỉ cần 50 điểm cơ bản, tức thêm 0,5% nữa thành 0,75% nữa thôi, Trước mắt, nếu như các doanh nghiệp VN vẫn ồ ạt "in giấy lấy tiền", như đồn đoán hiện nay thì giá cổ phiếu TTCK VN sẽ tiếp tục sụt giá nữa. VN nên chú và hạn chế IPO các DNNN trong thời điểm xấu này, chờ thị trường toàn cầu tái cân bằng vốn vào mùa Thu năm nay rồi mới IPO, việc IPO nên chọn thời điểm TTCK sôi động. Nếu không các giá cổ phiếu sẽ biến thành "giấy lộn".




-----




Nhật khi tiến hành công nghiệp hóa theo tinh thần chiến đấu của những Kiếm sĩ đạo Samurai, Nhật có xây dựng loại tập đoàn chủ đạo được nhà nước yểm trợ ở đằng sau là những "Zaibatsu", rồi "Keiretsu". Nam Hàn học theo Nhật để phát triển kinh tế với sự thành lập của các "Chaebols", để tạo ra các tập đoàn kinh tế nhà nước mà thực chất là các "tập đoàn tài phiệt", với doanh nghiệp và ngân hàng kết hợp phương tiện thành từng khối theo hàng dọc để thực thi chiến lược do nhà nước đề ra và yểm trợ. Với lãnh đạo do dân chúng kiểm soát chặt chẽ. Chiến lược và tổ chức ấy có đạt kết quả ban đầu, nhưng vẫn bị mờ ám dẫn tới nạn chiếm dụng tài nguyên lệch lạc và sự cấu kết mờ ám giữa chính trị và kinh doanh. Đông Á sở dĩ bị khủng hoảng năm 1997, tại Nhật vào năm 1990 là do người ta mất kiểm soát các tập đoàn này vì thiếu thông tin. VN cũng học theo chiến lược này. Cụ thể là học theo mô hình phát triển các "Chaebols" của Nam Hàn nhưng thất bại vì nó không còn phù hợp, vì thế giới ngày nay theo mô hình kinh tế thị trường tư bản do tư doanh làm chủ. 

Mẫu chốt ở đây, là VN hay bị nạn lạm phát đe dọa, là khi phát triển kinh tế dựa vào các DNNN là vì không chỉ là hậu quả của chính sách tiền tệ mà còn xuất hiện dưới một dạng khác là sức mua sút kém của đồng bạc vì hiệu suất đầu tư quá thấp, nhất là của quốc doanh. Vì doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo và được ưu tiên tài trợ, nhà nước càng tài trợ, càng dồn tiền kích thích kinh tế qua hệ thống quốc doanh lại càng gây ra lạm phát. Hậu quả cũng đã xảy ra tại VN hay phải canh chừng lạm phát chính là do các DNNN gây ra khi họ được ưu đãi quá nhiều tiền, và được vay lãi rẻ dẫn đến các DNNN này chuyển từ đầu tư sang đầu cơ là đem tiền đầu tư trái ngành vào tài chính, chứng khoán, bất động sản..., chẳng hạn như EVN, Dầu khí,...như đã thấy năm xưa. 

Yếu tố cần chú ý ở đây để phát triển kinh tế, VN phải chú ý chất lượng và "hiệu suất đầu tư", nôm na là VN phải đầu tư mấy đồng thì tăng sản lượng được một đồng. Các quốc gia gần giống VN nhất đó là Philippines, xứ này doanh nghiệp của họ đầu tư chừng hai hay ba đồng thì nâng được một đồng sản lượng. Trong khi đó, các DNNN phải đầu tư sáu đến bảy đồng thì mới có thêm một đồng sản lượng, nghĩa là VN bị hao phí sức lực để đạt kết quả nghèo nàn, mà không đóng góp đúng cho tăng trưởng GDP, chưa nói dến những hậu quả bất lường mà cả Việt Nam sẽ gặp sau này về phí tổn phải bỏ ra gấp nhiều lần, đó là nạn ô nhiễm bởi các ngành khai thác tốn nhiều điện năng và tài nguyên mà bán vẫn lỗ như quạng sắt, bauxite,...của DNNN như Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản VN (TKV)...

Hiện nay, đầu tư nước ngoài vẫn có những đóng góp đáng kể vào đà tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Nhưng các DNNN này đóng góp chưa đúng mức cho yêu cầu phát triển về kinh tế và xã hội. Muốn khai thác được đòn bẩy ấy thì cũng phải có trình độ và khả năng tối thiểu về phần nhân công và trình độ giáo dục đào tạo và đừng nên tự ru ngủ rằng mình có lợi thế với nhiều đại công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước nhiều nhất xứ khác.

VN là nước đang phát triền phải cần rất nhiều nợ của tư nhân để có những phần trăm trăn trưởng GDP cao sau này, có nghĩa là VN phải cần vốn của tư nhân, điều đó có nghĩa là gì? Có nghĩa là VN phải "tư nhân hóa", và phải loại bỏ cụm từ "cổ phần hóa" ra khỏi từ điển kinh tế của VN, để cho tư nhân dễ dàng tham ra "quản trị" các DNNN, khi tư nhân góp vốn. Về khái niệm DNNN, thực tế là tiền thuế của dân, vì nhà nước có bao giờ làm ra tiền đâu?



-----


Có một kinh nghiệm bắt đáy của thị trường chứng khoán. Đó là bất kể phiên giao dịch nào cũng có đáy để bắt, nếu nhà đầu tư tự tin rằng giá cổ phiếu đó đã thấp. Nó thường chỉ thành công khi đầu tư vào thị trường con Gấu. Tuy nhiên, khi thị trường hoảng loạn bởi "boom thị trường chứng khoán (the stock market boom), thì không bao giờ bắt con dao đang rơi (never catch a falling knife), khi các nhà đầu tư có động thái rút vốn, và họ chuyển từ đầu tư dài hạn sang đầu tư ngắn hạn là thị trường rất khó đoán, kể cả những người giàu kinh nghiệm nhất, kể cả tôi không thể đoán ra để kịp phản ứng. 

Việc đầu tư vào TTCK, những tin tức vĩ mô kinh tế luôn đi sau tin tức TTCK, nếu ai bám sát vào tin tức vĩ mô kinh tế là sạch vốn trong môi trường đầu tư ngắn hạn, và cần hiều rằng: Giá cổ phiếu được điều khiển bởi các mối quan hệ giữa người mua và người bán.Cổ phiếu hấp dẫn có người mua hơn người bán, mà giá cả tăng lên, trong khi cổ phiếu kém hấp dẫn cảm nhận được hiệu ứng ngược lại là giá sẽ giảm.

Bất kể thị trường nào, cung và cầu là một bạo chúa, kẻ cai trị tàn bạo của thị trường chứng khoán. Khi nhu cầu cao và nguồn cung thấp, giá cả tăng lên. Khi nguồn cung cao và nhu cầu thấp, giá giảm. Giá cổ phiếu cũng được điều khiển một phần bởi các mối quan hệ giữa người mua và người bán. Cổ phiếu hấp dẫn có người mua hơn người bán, mà giá cả tăng lên, trong khi cổ phiếu kém hấp dẫn hiệu ứng ngược lại giá sẽ sụt giảm. Giá cổ phiếu là một chức năng của cung và cầu. 

Ảnh hưởng khác tác động vào giá chứng khoán, như thu nhập, nền kinh tế có thể ảnh hưởng đến mức độ cần thiết đến giá cổ phiếu. Nếu một doanh nghiệp báo cáo thu nhập thấp đáng ngạc nhiên trong doanh thu, nhu cầu đối với các chứng khoán có thể sớm tàn lụi với doanh nghiệp đó. Vì nó không, sự cân bằng hấp dẫn giữa người mua và người bán. Người mua sẽ yêu cầu giảm giá.

Về kinh tế vĩ mô, tăng trưởng GDP trong quý 1/2015 đạt 6,03% là con số khả quan do phía VN đưa ra. Chỉ số PMI sản xuất và dịch vụ (do Markit Group, HSBC công bố khảo sát và đánh giá), đạt khả quan 50.7 trong tháng 3, thấp hơn so với mức 51.7 trong tháng 2. Các thị trường tài chính xem PMI sản xuất và dịch vụ, là chỉ số kinh tế hàng đầu quan trọng (trái ngược hoàn toàn con số tăng trưởng GDP trong quý 1/2015 đạt 6,03% của VN đưa ra). Nếu chỉ số PMI này mà kém có thể làm các thị trường cổ phiếu chứng khoán rơi rớt liên tục và khiến người ta dự báo tình trạng co cụm kinh tế sắp tới của quốc gia đó. Có nghĩa là các nhà đầu tư quốc tế không còn tin cậy vào thống kê của VN nữa. Đó là điều đáng lo ngại ! 

Tuy nhiên, thị trường tài chính lại có cái nhìn khác. Đó là "sự thâm hụt thương mại và tỷ giá hối đoái" (the trade deficit and exchange rates) của VN, cũng như: Nhập khẩu và thâm hụt thương mại (Imports and the trade deficit) vẫn gia tăng chủ yếu đến từ TQ, nước láng giềng xấu tính của VN, và sẽ càng áp lực lên tỷ giá USD/VND.

---

Câu hỏi đặt ra cho TTCK VN vẫn là, tầm quan trọng của tiền (mportance of cash). Chủ yếu vẫn là thanh khoản thấp èo uột. Thanh khoản thấp có nghĩa là hiện nay các nhà đầu tư đang rất khó khăn hơn để nhập và vị trí thoát. Những người cần mua hoặc thanh lý một vị trí bị kẹt giá thị trường trả tiền cho cổ phiếu của họ.

Như đã nhắc rất nhiều lần tầm quan trọng của tiền, và cung cầu, đó là: "Giống như bất kỳ thị trường, nơi có những người mua nhiều hơn người bán, giá cả tăng vọt đến khi các nhà đầu tư chuyên nghiệp bắt đầu rút tiền ra khỏi thị trường và các giá trị bị rơi xuống" (Like any market where there are more buyers than sellers, prices shot up until professional investors began pulling their money out of the market and values crashed).

Có thể khẳng định dòng tiền đang hiện diện trên TTCK VN, xuất phát từ hai nguồn chủ yếu là tiền của nhà đầu tư và nguồn tiền vay "ký quỹ" (on margin). Khi dòng tiền margin quá nhiều đổ vào TTCK thì có nghĩa là sẽ không có thêm dòng tiền mới vào thị trường nữa. TTCK có thể đang dò "mức đáy mới" trong các phiên giao dịch tiếp theo. Cơ bản vẫn trò gian manh của các nhà đầu tư ngoại, lẽ ra họ có thể "xả hàng" ra, nhưng do có dòng tiền margin đổ vào của các nhà đầu tư nội, điều đó có nghĩa là TTCK VN đang dò cái đỉnh mới trong ngắn hạn, có nghĩa là họ đang muốn kiếm lời trong các phiên tới. Nếu hôm nay họ bán tháo sẽ vô tình làm giá cổ phiếu của họ sụt giảm nặng, nên các nhà đầu tư ngoại quốc đang cố đẩy giá cổ phiếu lên rồi sau đó bán ròng tiếp.

Tuy nhiên, đầu tư vào chứng khoán đòi hỏi một số kiến thức về các yếu tố đẩy giá cổ phiếu lên hoặc xuống (Investing in stocks requires some knowledge of the factors that drive stock prices up or down). Đó là, trong môi trường đầy rủi ro biến động về tỷ giá hối đoái, cũng như giá dầu hạ, nếu các nhà đầu tư giàu kinh nghiệm nhất, nếu họ chuyển từ đầu tư ngắn hạn như hiện nay sang đầu tư dài hạn, thì cần phân biệt rằng, trong ngắn hạn, các tin tức của TTCK luôn đi trước các tin tức vĩ mô kinh tế. Trong khi chỉ số TTCK có thể tăng và giảm hoàn toàn độc lập của nền kinh tế. 

Bởi vì, nếu các nhà đầu tư chứng khoán lớn, họ thường đặt cược vào tương lai dài hạn. Do đó, tâm lý của họ có thể thoát ra khỏi những ảnh hưởng từ các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế, kể cả lúc xấu nhất. Những tin tức vĩ mô có thể là xấu và rủi ro ngày hôm nay, nhưng nếu nhà đầu tư chứng khoán tin rằng thời gian tới sẽ tốt hơn thì họ có thể bắt đầu mua vào và làm tăng giá cổ phiếu. 

Hiệu ứng ngược lại, nếu tin tức vĩ mô hôm nay đều là những con số khả tốt rất ấn tượng như đã thấy của VN, nhưng các nhà đầu tư đặt cược thời gian tới sẽ rất là xấu và khó khăn cho nền kinh tế của VN, và họ chuyển từ đầu tư dài hạn sang ngắn hạn, họ sẽ bán cổ phiếu và làm sụt giá chứng khoán nó đang diễn ra ở TTCK VN, dù kinh tế VN đang tăng trưởng mọi thứ đầu hoàn hảo và tốt, GDP của VN có thể tăng trưởng 7% cho các quý 2, hay 8% cho quý 3,... tiếp theo cũng không cữu vãn nổi sự sụt giá chứng khoán.

--

ầu thô là sản phẩm chiến lược vì cần thiết cho việc sản xuất và vận tải của các nước cho nên ngoài yếu tố cung cầu có ảnh hưởng đến giá cả người ta phải chú ý đến việc các nước sản xuất và xuất khẩu dầu. Trái với nhận của nhiều người là khi dầu thô sụt giá, các nước thuộc vào nguồn thu ngân sách của dầu như Liên bang Nga, Saudi Arabia, Iran, Venezuela, có cả VN....họ còn gia tăng bơm dầu để trám vào khoản hụt thu dẫn đến giá dầu càng hạ, chứ chả có nước nào cắt giảm sản lượng khai thác dầu cả. Trong quá khứ giá dầu loại West Texas Intermediate viết tắt là WTI trên thị trường Bắc Mỹ gọi là NYMEX đã xê xích từ 15 tới 120 USD một thùng. Và cái bản lề, hay điểm lật được cho là cái neo 50 USD/thùng. Cho nên, nếu giá dầu thô mà cứ chập chờn quanh cái neo 50 USD/thùng thì người ta sẽ chứng kiến giá dầu có thể về mốc 20 USD/thùng.

Hiện nay, thế giới sản xuất dư thừa, nhũng loại quặng sắt, bô xít, sắt thép,...chất tồn kho tại TQ còn lớn hơn cả tổng sản lượng sắt, thép,...của Liên hiệp Âu châu với 28 nước thành viên cộng lại. Cho nên, các dự án bô xít ở Tây Nguyên và Lâm Đồng tại VN sẽ càng bị lỗ nặng. Hiện nay bán buôn tại thị trường giao dịch có hạn kỳ hay "futures", giới đầu tư vẫn đánh cược theo hướng giao dịch là giá dầu hạ. Tuy nhiên, cũng cần chú ý, chúng ta nên nhớ rằng các nghiệp vụ đầu tư này thường có hạn kỳ ngắn và đầy rủi ro, tức là giới đầu tư này vẫn có thể đánh cược ngược lại theo chiều hướng giá dầu tăng.

Thị trường cổ phiếu có bao gồm nhiều doanh nghiệp năng lượng và dầu thô sụt giá tất nhiên làm giảm lợi nhuận của họ điều đó có góp phần làm sụt giá một số nhóm cổ phiếu liên quan đến dầu khí thôi. Tuy nhiên, yếu tố làm thị trường chứng khoán sụt giá lại có tính cách bao quát hơn. Giá dầu đang sụt chủ yếu vì tình trạng yếu kém của các nền kinh tế lớn như EU, TQ, Nhật, nhất là TQ, khi TTCK xứ này đang là mớ bong bóng bùi nhùi. Thành ra, TTCK mà sụt giá đột ngột chính là vì triển vọng kinh tế toàn cầu đen tối chứ không chỉ vì dầu thô sụt giá. Dầu thô sụt giá là một chỉ dấu về sự sa sút của sản xuất kinh tế.

VN nên tránh tình trạng lạc quan tếu. Bởi lẽ không hiểu sao, một CEO của công ty môi giới chứng khoán thuộc một ngân hàng thương mại lớn nhất nhì xứ này dự báo chỉ số VN-Index trong năm 2015 sẽ tăng lên 800 điểm. Điều đó có nghĩa là gì? Có nghĩa là GDP thật của VN phải trên mức 8%. 

Về đời sông của tầng lớp dân VN. Khốn nỗi bản tin giá dầu hạ hay tăng nó không còn được người dân VN đón nhận tin vui hay buồn nữa. Cư dân các nước khác tại Á châu, nơi mà các quốc gia này phụ thuộc vào "vàng đen" rất nhiều. Khi có bản tin giá dầu hạ, một sự phấn khích tột cùng của các doanh nghiệp và giới tiêu dùng sản xuất. Bởi lẽ khi giá dầu thế giới xưa kia liên tục tăng, thì người ta tuyên bố đòi "quyết liệt" thả nổi giá theo thị trường thế giới, tức là giá dầu chưa tăng mà người ta đã soạn trước hóa đơn điều chỉnh giá tăng. Nhưng khi giá dầu hạ quá lâu, người ta lảng tránh im re, và chỉ có dân VN và giới tiêu dùng là lãnh rủi ro ở giữa cho giới tài phiệt kinh doanh dầu VN, thì làm sao mà thúc đẩy tăng trưởng kinh tế để TTCK VN tăng điểm được, dù rằng TTCK VN có thể đang tăng điểm, nhưng đó là cái bẫy thanh khoản và sẽ sụp đổ bất cứ lúc nào, dù TTCK VN chưa phải là bong bóng. Tức là tiềm năng tăng giá chứng khoán còn rất lớn, nhưng bị vướng những nhóm lợi ích cả hành chính lẫn chính trị.


---

ếu duy trì được lãi suất thấp đó là điều tốt, việc này sẽ thu hút được vốn FDI, cũng như vốn nóng TTCK. Bởi dân số VN là dân số trẻ, độ tuổi lao động là rất lớn, và có 90 triệu dân, khác với Hàn Quốc hay Nhật, do dân số hai nước này lão hóa nên khả năng hạ lãi suất thấp phải còn chờ "hãy đợi đấy" chứ chưa thể khẳng định nó sẽ thúc đẩy chi tiêu vay mượn nhằm thúc đẩy tiêu thụ nội địa. Tuy nhiên, bài báo này có đề cập vấn đề nợ công. Tôi nhắc lại câu chuyện hài hước rằng mà VN hết sức thận trọng tránh đầu tư công bừa bãi như tỉnh nào cũng xây sân bay, rồi tháp truyền hình cao nhất thế giới,...

Có một quan chức chuyên gia tài chính VN, có hỏi những chuyên gia kinh tế Nhật thuộc Bank of Japan (BoJ) hỏi rằng: Hiện nay nhiều chuyên gia kinh tế VN đang lắm giữ cương vị đại biểu quốc hội, kiêm Bộ Tài chính rất tâm đắc muốn học hỏi theo mô hình chính sách kinh tế kiểu Abe mà quốc tế gọi là "Abenomics", và muốn áp dụng cho VN có được không? Chuyên gia tài chính ngân hàng dưới quyền của Thống đốc Haruhiko Kuroda của BoJ trả lời theo ngôn ngữ lịch sự ngoại giao: "không sao, vì Việt Nam có khả năng trả nợ...".

Tôi thiển nghĩ, VN mà "đú đớn" vào cuộc chiến tranh tiền tệ khi muốn bắt trước Nhật để sắm cho được cái cung kèm " khuyến mãi với 3 mũi tên". Tôi nghĩ rằng mũi tên thứ nhất mà VN bắn ra đầu tiên là trúng vào TTCK, nơi các con bạc đang say sưa sát phạt nhau, dẫn đến sự sụp đổ của thị trường cổ phiếu VN. Mũi tên thứ hai, có lẽ là sẽ bắn trúng và làm thủng cái trần nợ công 65% GDP, và nghĩa vụ trả nợ của các DNNN, do chính phủ bảo lãnh cho doanh nghiệp vay nợ bằng đồng ngoại tệ. Mũi tên thứ ba, có lẽ nguy kịch nhất đó là bắn trúng thẳng vào túi tiền của người dân. 

Đầu tiên cần đánh giá những quốc gia nợ nần dân chúng trong nước họ nhiều nhất, dẫn đầu danh sách là Nhật, kế đến là Đức, tiếp theo lần lượt là Mỹ, Mexico. Đối với Nhật, cần hiểu rằng tuyệt đại đa số là "nội trái", được yết giá bằng đồng Yen, tức là Nhật nợ Nhật chứ không nợ nước ngoài. Nhật Bản không phải là nguy cơ bị vỡ nợ công, bởi vì hầu hết các khoản nợ của họ được tài trợ bởi công dân của của Nhật. Nôm na là những chủ nợ của đa số các khoản nợ ấy lại là Ngân hàng Trung ương Nhật (BoJ), điều đó có nghĩa là chủ nợ cũng là chủ nhà in giấy bạc là đồng JPY, và nhờ vậy Nhật có quyền quyết định về phân lời lãi cao thấp khi in tiền bơm bạc vào kinh tế. Cho nên, thị trường tài chính Nhật vẫn ổn định và không bị biến động về lãi suất. Thực tế, bây giờ Nhật phát hành tờ giấy nợ trái phiếu chính phủ 10 năm chỉ trả tiền lời cỡ 0,35%, thấp hơn cả Đức.


--
Chuyên gia Mỹ phân tích: "Tiền chảy vào đâu khi Fed nâng lãi suất?". Link: http://vietstock.vn/.../tien-chay-vao-dau-khi-fed-nang...

Tiền Mỹ tăng giá giới tiêu dùng sẽ mạnh tay nhập khẩu hàng hóa VN, nếu như doanh nghiệp VN đừng vì cái lợi trước mắt m
à bán hàng cho TQ mà dán cái mác "sản xuất tại VN". Thực tế VN có dân số 90 triệu người. Cần hiểu rằng, tuyệt đại đa số đầu tư của doanh nghiệp Mỹ, Âu châu, Nhật, đầu tư ra nước ngoài chẳng hạn, lại nhắm vào các nước mà doanh nghiệp tư nhân làm chủ, có khả năng tiêu thụ nội địa cao. Vì vậy, yếu tố thị trường nội địa của VN cũng quan trọng, khi dân số Việt Nam đã vượt quá 90 triệu, và vì nằm trong khu vực có hoạt động mậu dịch mạnh cửa ngõ đường biển giao thông hàng hải chiến lược nhất nên Việt Nam có thể là bàn đạp giúp cho nhà đầu tư tái xuất khẩu ra ngoài. Vốn FDI cũng sẽ quay lại VN thôi. Cái quan trọng là VN nên thoát khỏi cái bóng của nước láng giềng TQ xấu tính. VN đạt xuất siêu của Mỹ bao nhiêu thì đi nhập siêu bấy nhiêu cho TQ, khiến đồng bạc VN luôn bị trượt giá. 

Với thị trường cổ phiếu chứng khoán VN được ví là sòng bạc, không đóng góp đáng kể nào cho việc gọi vốn tinh vi vào sản xuất, mà ngược lại TTCK VN lại là nơi "rửa tiền" mà còn bám vào vốn vay ngân hàng đi đánh bạc nhằm hưởng mức lời chênh lệch cao hơn lãi suất, khi thị trường đảo chiều, cổ phiếu bị xì nhà đầu tư vay vốn ngân hàng bỏ chạy và để lại núi nợ xấu cho ngân hàng, thì dòng vốn FDI mới đóng vai trò quan trọng bền vũng nhất. Tuy nhiên, VN muốn phát triển và có tiềm lực tài chính lành mạnh thì trước nhất phải cải tổ luật lệ trên TTCK này.


---
Một số thôi, khi tiền Mỹ tăng giá các tay đầu tư cổ phiếu tại Mỹ sẽ kéo tiền ra để chốt lời khiens có thể chứng khoán Mỹ sụt giá, họ có thể đầu tư vào trái phiếu Mỹ, tuy nhiên một số sẽ nhân cơ hội đầu tư mạnh vào các TTCK có đồng nội tệ bị suy yếu, bởi lẽ 1 USD của họ sẽ mua được nhiều cổ phiếu hơn, họ muốn sở hữu nhiều cổ phần và cổ phiếu của nước đó về dài hạn. Hoặc đầu tư theo thương vụ M&As...

March 28, 2015

Phương Thơ(P4)



Bất kể những gì được gọi là nợ công dẫn đến đồng nội tệ bị trượt giá đó là sự tích lũy hàng năm của sự "thâm hụt ngân sách" (budget deficits). Đó là kết quả của nhiều năm chính phủ của những quốc gia đó chi tiêu nhiều hơn từ nguồn thu từ thuế, và nạn nhập siêu trong kinh tế. Với VN, khi mà ADB mới đây cảnh báo mức nợ công chính thức đã tròn con số 60% của tổng sản lượng GDP. 

Nạn nhập siêu kinh tế có 2 loại: Loại nhập siêu cho đầu tư sản xuất như máy móc, linh kiện,...mà không hiệu quả cho sản xuất kinh doanh bởi nạn tham nhũng móc ngoặc để thu hồi ngoại tệ dẫn đến việc thiếu hụt ngoại thì sẽ làm đồng bạc mất giá, nếu tình trạng này kéo dài nó tiên báo cho sự suy nhược kinh tế. 

Loại nhập siêu hàng xa xỉ do dân chúng "nhập siêu" mua tiêu xài, nó tiên báo rằng kinh tế thịnh đạt, thu nhập của người dân tăng, loại nhập siêu này đi kèm đồng nội tệ tăng giá. 

Nếu vào mùa Thu năm nay, nếu lãi suất tại Mỹ tăng, dù chỉ là 0,75 điểm cơ bản, tức là 0,75%, thì cũng khiến con nợ là các doanh nghiệp hay nhà nước khác trên thế giới phải trả chi phí đi vay cao hơn chưa kể là trả lãi với đồng USD tăng giá và đồng USD sẽ hiếm hơn trong quốc gia đó. Vì đằng sau dấu phẩy lãi suất gia tăng của Mỹ thì con nợ đi vay và yết giá bằng đông USD cũng phải thanh toán lãi bạc tỷ USD ở nhà. Nếu các quốc gia này mà sẵn gặp khó khăn tài chính bên trong thì sẽ bị nguy nhất với ảnh hưởng đồng nội tệ sẽ mất giá và lạm phát của quốc giá đó là bằng đồng USD chứ không phải bằng đồng nội tệ. Kết quả là Mỹ tăng lãi suất thì giới đầu tư, và các chủ nợ cho vay ở các nước đó sẽ bán các khoản nợ yết giá bằng nội tệ để mua USD và càng gây thêm biến động cho thị trường khi họ muốn đầu tư vào Mỹ chứ chả cần phải nói đến đồng USD tăng giá. 

Nói gọn lại là lượng tư bản tài chính yết giá bằng đồng USD trên thế giới sẽ giảm dần và trở thành đắt đỏ hơn so với trước đây. Nếu Mỹ tăng lãi suất thì xu hướng tư bản tào chính rút về Mỹ là nơi có lời hơn sẽ có đà gia tốc tăng mạnh hơn và gây nguy cơ dội ngược vào kinh tế cho các nước đã đi vay quá nhiều mà vay bằng đồng tiền Mỹ, khiến đồng USD tại quốc gia đó trở nên khan hiếm, doanh nghiệp xuất khẩu sẽ thiếu hụt USD tài trợ cho sản xuất kinh doanh. 

Cho nên, VN phải hết sức thận trọng tránh lãng phí, hạn chế các tỉnh nào cũng muốn xây sân bay cấp quốc tế khi mà thu nhập của người dân chưa đủ để mà đi máy bay, xây đường cao tốc chưa dùng đã lún, hay mới đây người ta chặt cây tại Hà Nội và vẽ ra đủ loại phí để bòn rút ngân khố quốc gia mà người ta chỉ "rút kinh nghiệm" mà không chịu từ chức, khiến giới đầu tư và các nhà tài trợ e ngại sẽ không dám cho VN vay với lãi suất tài trợ nhẹ lãi thì VN sau này sẽ khó vay tiền kiểu viện trợ và cần tới sự tài trợ của thị trường, với điều kiện lãi vay đắt đỏ hơn khi cái dây neo đồng bạc của VN ngày càng căng ra dù đồng bạc xanh của Mỹ không hẳn tiếp tục tăng giá.


--------------------------


Trả lời Shirouto Toushika. Những cụm từ "điều chỉnh tỷ giá" hay giữ ổn định tỷ giá ai muốn hiểu sao cũng được. Đó là ngôn ngữ thời thượng chẳng chứa đựng nội dung nào cả. Nếu mà nó là chiếc đũa thần kỳ như vậy thì bây giờ nước Nga của Putin phải sang VN học hỏi chứ đâu cần phải nâng lãi suất trên 2 con số và ào ạt bán ra ngoại tệ như đồng USD và EUR để giữ cho đồng Rúp Nga - Ruble (RUB)khỏi bị trượt giá, và sao không nhân cơ hội đồng RUB rẻ thế thì sao nước Nga không xuất cảng cho mạnh qua các nước đồng minh như Bắc Hàn, Trung Quốc, Ấn Độ, Syria,... Ta nên nhớ Trung Quốc, Nhật Bản ấn định giá trị thấp đồng Nhân dân tệ (CNY), và đồng Yên Nhật (JPY) của họ bằng cách neo giá nó với đồng USD, cùng với một số rổ tiền tệ khác để đòng bạc rẻ xuất khẩu dễ cạnh tranh. Họ giữ tỷ giá thấp bằng cách mua trái phiếu kho bạc Mỹ. Đây là lý do giải thích phần nào hai nước này là chủ nợ lớn nhất của Mỹ. 

Ngoài hai nước Nhật, TQ dựa vào xuất cảng rất lớn ta cần chú ý thêm một nước theo lối trung lập đó là nước Đức, cũng là một nước dựa vào xuất cảng rất mạnh dù đồng EUR năm xưa luôn cao hơn đồng USD. Cụ thể năm 2008 thì 1,43 USD mới đổi được 1 EUR, nhưng nước Đức vẫn xuất cảng rất mạnh mà còn mạnh hơn Nhật rất nhiều, tức là đạt thặng dư mậu dịch trong xuất siêu. Lý do Đức có thể tự chủ về linh kiện, nguyên liệu cho sản xuất ráp chế, cũng giống như Nhật, họ tự chủ nhiều lĩnh vực kỹ thuật sản xuất và chế tạo... 

Điều đó giải thích vì sao? Lấy thí dụ như xứ Venezuela chơ đơn giản. Đơn vị tiền tệ: Bolívar Venezuela bị trượt giá nặng vậy sao không tranh thủ bán hàng cho rẻ nhờ đồng bạc mất giá để thu ngoại tệ về. Nó chả khác mấy khi Tập đoàn Samsung nói rằng, các doanh nghiệp VN chưa thể sản xuất nổi con ốc dùng cho linh kiện điện tử chủ yếu là điện thoại của họ. 

Bây giờ thực tế, nếu NHNN VN phá giá đồng bạc thêm 2%, đầu tiên là phản ứng của thị trường cổ phiếu bị bể, giá trị vốn hóa nhiều công ty VN sẽ bị bốc hơi và thiếu thanh khoản. Các nhà đầu tư quốc tế kể cả trong nước kéo tiền ra, doanh nghiệp dựa vào xuất khẩu yết giá trên TTCK bị kẹt kẹt vốn không có tiền. Thực tế mà nói các mặt hàng của VN xuất khẩu trên thế giới hiện nay còn bị cáo buộc bán phá giá chứ đừng nói là phá giá đồng nội tệ để bán rẻ hơn trước cho nước ngoài.


-----------------------------------------


Việc tính GDP này của VN cũng nên đặt lại như sau. Khi tính GDP như vậy, có lẽ VN tính gộp luôn giá trị nhà cửa bất động sản bán ế bỏ trống họ cũng tính vào GDP, đường xá mới xây bị lún, hay cầu bị và sửa lại, người ta cũng tính luôn vào giá trị GDP, sắt thép, xi măng hay xăng dầu tích trữ để bình ổn chưa dùng đến họ cũng tính vào GDP luôn. Thậm chí việc đốn chặt cây xanh tại Hà Nội, nhưng họ vẫn có thể tính vào GDP luôn không chừng....

Cần hiểu rằng, việc mở rộng GDP (tăng GDP) của một quốc gia là dấu hiệu cho thấy của một nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ, trong khi GDP co cụm lại, nó cho thấy một sự suy giảm trong nền kinh tế của một quốc gia. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng GDP dự kiến của một quốc gia có thể được sử dụng để xác định mức độ thích hợp của vấn đề nợ hoặc xác định nếu các công ty hoạt động trong nước có thể gặp vấn đề về tăng trưởng.

Các nhà đầu tư quốc tế thường đặt kỳ vọng một giá trị cao về ước tính GDP của quốc gia đó, bởi vì chúng ảnh hưởng đến gần như tất cả các phần của nền kinh tế của một quốc gia. Cụ thể, một mức tăng trưởng GDP cao thường được đi kèm với việc tăng lương, tỷ lệ thất nghiệp thấp, và mở rộng lợi nhuận doanh nghiệp, trong khi ngược lại là một GDP sút giảm, đó là một dấu hiệu xấu cho các nhà đầu tư tại một quốc gia, là dấu hiệu tiên báo đi kèm sự phá sản của nhiều doanh nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, tiền lương cắt giảm sức mua suy yếu. Mà sức mua của người dân VN hiện nay khá yếu mà một tờ báo lớn của VN gửi cho tôi e-mail để tìm hiểu cách thống kê và tính GDP của Mỹ.


------------------------------------


March 24, 2015

Phương Thơ(P3)

Cơ bản vẫn là: Vốn hóa thị trường: Vốn hóa thị trường là tổng giá trị thị trường chứng khoán của các công ty, hoặc giá cổ phiếu nhân với số lượng cổ phiếu lưu hành. Nôm na viết theo Anh ngữ là: 

TTCK VN cơ bản vẫn là: Market capitalization: Market cap is the total stock market value of the company, or the share price multiplied by the number of shares outstanding. Tức là: Vốn hóa thị trường là tổng giá trị thị trường chứng khoán của các công ty, hoặc giá cổ phiếu nhân với số lượng cổ phiếu lưu hành.

Về bối cảnh hồ sơ TTCK VN, thì người ta có thể đo lường kích thước của thị trường cổ phiếu ở "market capitalization", tức là nhân số cổ phiếu với giá niêm yết trên TTCK VN còn nhỏ mà thực tế nếu tính toán theo cung tiền M2, và đối chiếu với doanh thu các công ty niêm yết giá trên TTCK thì rõ ràng cổ phiếu các doanh nghiệp VN thực tế là dắt chứ không rẻ như người ta nói. Cho nên, TTCK VN luôn rơi vào vòng luẩn quẩn. Cụ thể, nếu thanh khoản tăng đột biến nhận một lượng tiền quá lớn chảy vào thì thổi lên bong bóng, khi rút ra ào ạt thì bỏng bể, thanh khoản sụt giảm thê thảm, và nhiều công ty lỗ lã nặng, ngân hàng thận trọng không dám cho vay, vì nợ xấu. Mà trái bóng căng quá thì sẽ xì. Nếu xì ra chầm chậm thì ta có hiện tượng gọi là “điều chỉnh” hay hạ cánh an toàn. Nếu xì ra thật mạnh trong khoảng thời gian ngắn, ta có nạn bể bóng. 

Cơ bản vẫn là các nhà đầu tư VN rất non tay, chẳng hạn, hễ nghe thông tin nhà đầu tư ngoại bán mạnh hay tháo vốn vì tin rằng giá cổ phiếu sẽ hạ nữa để nhảy vào bắt đáy nên các nhà đầu tư VN cũng bọc xuôi theo thị trường và cũng đầu tư vào cửa bán cùng nhà đầu tư ngoại quốc nên góp phần làm giá chứng khoán của họ hạ hơn nữa mà không thể xác định được đâu là cái đáy thấp nhất để đầu tư vào thị trường con Gấu và đâu là cái đỉnh cao nhất để nhận biết TTCK sẽ điều chỉnh (tức là TTCK có thể mất 10% giá trị trong nhiều ngày sụt giá).

Và bây giờ hết ai dám liều lĩnh "mua trên sự sợ hãi, bán vào sự tham lam" (buy on fear, sell on greed). Việc phân tích kỹ thuật là vô giá trị. Chỉ cần động thái "xả hàng" là TTCK VN đỏ rực.

-------------------

Câu hỏi xác đáng. Tôi hết sức thận trọng trả lời, không thôi người ta lại bảo là "thế lực thù địch"...bởi nó liên hệ lãi suất, tăng trưởng GDP, tỷ giá, doanh thu, cung tiền M2,...và nhiều thứ khác. Tuy nhiên bạn có thể theo dõi danh sách các tổng số mã cổ phiếu các doanh nghiệp VN niêm yết trên thị trường là có thể tính ra không quá khó lắm. Khi tính toán bạn phải trừ hao hụt đi, vì các công ty VN nổi tiếng là khai man sổ sách. Thí dụ đơn giản nhất, bạn có thể. giá cổ phiếu và mức tăng trưởng của tại sàn Apple Inc (Dow Jones, NASDAQ:AAPL) là ảnh đại diện của bạn với giá 166.13 USD/cổ phiếu, và doanh thu của nó tạo ra lợi nhuận rất ấn tượng. Dù P / E của nó rất cao là 22, nhưng dân trong nghề vẫn coi đó là rẻ. Ngược lại, P / E của các doanh nghiệp VN khá thấp, doanh thu đôi khi là âm và lỗ triền miên, hoặc có lời đi nữa khi chia ra lợi nhuận mà so với lãi suất dài hạn vẫn kém lời rõ ràng đó là đắt...

Và việc giải thích đến vẫn đề nhạy cảm là kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán nữa...

-------------------
Shirouto Toushika: Để tìm ra bong bóng tài sản (asset bubble), hay các tài sản độc hại (toxic assets), của TTCK VN là không khó lắm, tuy nhiên nó đụng vào vấn đề "nhạy cảm", liên quan đến vấn đề nội tại của kinh tế VN, nên tôi không giải thích vì sẽ tốn nhiều thống kê rất phức tạp. Đó chỉ là lý thuyết về dài hạn khi nền kinh tế và TTCK đi song hành thì thảm họa xẩy ra. Bởi vì trong ngắn hạn thị trường chứng khoán không phải là nền kinh tế và nền kinh tế không phải là thị trường chứng khoán. Bởi vì nền kinh tế là một cách xác định tất cả chúng ta làm, mua, bán và tiêu thụ. Thị trường chứng khoán là một phần của nền kinh tế, TTCK đại diện cho hầu hết các thành phần của các công ty lớn nhất và mạnh mẽ nhất có doanh thu lợi nhuận thì chứng khoán sẽ tăng, vì nếu nhà đầu tư tin rằng tác tác động vĩ mô về chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái nó không ảnh hưởng đến hướng kinh doanh của công ty, nên nhà đầu tư họ sẽ mua vào nhóm cổ phiếu đó và làm tăng giá chứng khoán.
-------------------

Đối với TTCK VN (nhiều người nói là sòng bạc cũng không sai chút nào) thì giá cổ phiếu được giao dịch hàng ngày được điều khiển bởi cung và cầu của người mua và người bán. Không giống như các nhà đầu tư dài hạn ở các TTCK khác, các nhà đầu tư ngắn hạn (đầu cơ) tại VN thường đặt cược vào sự thay đổi giá cả và trở về đúng hướng của nó bằng cách dựa vào biểu đồ phân tích kỹ thuật trong "biến động giá cả hàng ngày" (daily price swings). Nếu ra sàn giao dịch quan sát có lẽ đây là sở trường khai thác của nhà đầu tư VN. Nếu lấy thí dụ so sánh giá cả là "con sóng", là quan sát "đỉnh sóng" để ước đoán giá cổ phiếu nào sẽ lên tới cái đỉnh nào hay rơi xuống tới cái đáy sâu nào thì đảo chiều, từ cao trào đảo thành thoái trào hay ngược lại để mua và bán. Phân tích dựa vào biểu đồ kỹ thuật TTCK VN mà các tờ báo chuyên đề chứng khoán phân tích từ đầu năm đến nay như thống kê của tôi là sai đến 70%, các công ty chứng khoán phân tích còn tệ hơn, nhiều thân chủ nhà đầu tư cò con bỏ chạy và bỏ luôn trả tiền huê hồng môi giới cho công ty chứng khoán. 

Các nhà đầu tư VN đa số không phải là những nhà phân tích tài chính, hay kinh tế để phân tích chi tiết về lời lỗ khi biến động tỷ giá hối đoái. Giả sử tiền nội tệ VND của VN bất ngờ lên giá so với USD như là 20,000 VND đổi chác được 1 USD, ta sẽ thấy thanh khoản nhà đầu tư ngoại quốc sẽ ào ạt bơm theo nhiều ngõ, hoặc vào các quỹ đầu tư, dù rằng các chỉ số chứng của VN có sụt điểm. Ở bên kia đầu là nhà đầu tư nội là bán tháo rồi mong giá xuống để bắt đáy để kiếm lời thật nhanh (đánh cược, đánh bạc). Thật không may, trò chơi bắt đáy là không bao giờ bắt con dao đang rơi (never catch a falling knife) đã khiến nhiều nhà đầu tư VN "đứt tay", và lỗ nặng.

Tóm gọi lại là TTCK VN điều chỉnh mấy tháng nay là do tỷ giá đồng nội tệ VND bị mất giá. Chỉ số chứng khoán chính VN-Index tính từ đầu năm 2015 đến nay từ cái đỉnh 592,57 điểm đạt được vào tháng Hai năm 2015, nay rơi xuống còn 567.43 điểm do đông USD mạnh lên, đồng nội tệ VND bị giàng cái neo quá căng, có khi là bị đứt neo nên xẩy ra tâm lý bán chốt lời để hạn chế rủi ro là chính.

March 18, 2015

1001 yếu tố ảnh hưởng đến giá chứng khoán


Dưới đây là một số yếu tố tác động đến giá cổ phiếu, mà hầu như ai cũng từng trải nghiệm đau đớn ngoài ý muốn trước khi trở thành triệu phú USD.


Những nhà đầu tư cổ phiếu giàu kinh nghiệm có thể kiếm tiền bằng cách nhảy vào, nhảy ra và mua giá thấp bán giá cao. Đấy là trường hợp lý tưởng trong đầu tư cổ phiếu. Tuy nhiên, trên thực tế, đầu tư cổ phiếu là công việc rất khó khăn và phải gánh chịu nhiều rủi ro. Có những rủi ro bạn có thể kiểm soát được, nhưng cũng có những rủi ro ngoài tầm kiểm soát, chẳng hạn như khi thị trường đảo chiều.

Dưới đây là một số yếu tố tác động đến giá cổ phiếu, mà hầu như ai cũng từng trải nghiệm đau đớn ngoài ý muốn trước khi trở thành triệu phú USD.

1. Cung và cầu (Điều cơ bản nhất mà nhà đầu tư nào cũng phải biết)

Giá cổ phiếu được quyết định bởi cung và cầu, cho nên, có thể nói cung cầu là một “kẻ cai trị tàn bạo” của thị trường chứng khoán. Cổ phiếu hấp dẫn có nhiều người mua hơn người bán thì giá tăng lên, trong khi cổ phiếu kém hấp dẫn thì ngược lại.

Giống như bất kỳ thị trường nào khác, nơi có người mua nhiều hơn người bán thì giá cả sẽ tăng lên, cho đến khi các nhà đầu tư chuyên nghiệp bắt đầu rút tiền ra khỏi thị trường và giá trị mua bán cổ phiếu bị giảm xuống.

Cũng cần thận trọng trong trường hợp nhu cầu cao còn nguồn cung thì thấp, và kết quả là giá cả tăng lên kèm theo cái bẫy thanh khoản. Đó là một con dao hai lưỡi, dễ tác động và thay đổi tâm lý nhà đầu tư, dẫn đến giá cổ phiếu đảo chiều sụt giảm rất nặng.

2. IPO (Phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng)

Các đợt IPO thành công sẽ thúc đẩy đà tăng cho thị trường chứng khoán, ngược lại, một đợt IPO thất bại có thể sẽ tác động tiêu cực dây chuyền.

Theo thống kê và kinh nghiệm, thông thường nên tránh IPO vào quý cuối cùng trong năm, vì nhà đầu tư có thể chưa thoát khỏi các khoản đầu tư bị kẹt, kém lợi nhuận. IPO thường sôi động và thuận lợi vào quý 1 đầu năm hoặc hết quý 2.

Nên thận trọng với các đợt IPO của các công ty nhỏ, đó là các công ty "làm mới" lại giá trị cổ phiếu, thực chất mang yếu tố đầu cơ.

3. Standard & Poor’s và nợ công

Trên thế giới có 3 công ty xếp hạng tín nhiệm lớn gồm Standard & Poor’s, Moody's và Fitch Ratings kiểm soát hơn 95% thị trường trái phiếu thế giới, trong đó ảnh hưởng nhất là hãng Standard & Poor’s, chuyên đánh giá về nợ công các quốc gia.

Thật không may cho thị trường chứng khoán nào bị "trúng tên lửa" của Standard & Poor’s, khi họ bất ngờ hạ bậc trái phiếu dài hạn của quốc gia vì nguy cơ vỡ nợ công. Một đợt tụt dốc của giá cổ phiếu có thể làm "bốc khói" xóa sạch lợi nhuận mà nhà đầu tư đã tích lũy trong nhiều tháng chỉ trong 1 hoặc 2 phiên.

4. Hốt hoảng gây ra khủng hoảng

Yếu tố tâm lý bầy đàn (herd mentality) thường dẫn đến hiện tượng "Sợ hãi làm cho các nhà đầu tư nhảy ra khỏi thị trường (bán thấp) - Fear makes investors jump out of the market (selling low)", gây ra sự giảm sàn ở nhiều cổ phiếu. Kể cả các cổ phiếu có kết quả kinh doanh tốt cũng không miễn nhiễm được sự sụt giảm bởi tâm lý bầy đàn vì không tìm được lực mua do nhà đầu tư e ngại đứng ngoài.

Lý do có thể xuất phát từ tâm lý lo ngại do nguy cơ chiến tranh, khủng bố, và quan trọng nhất đó là việc bắt giam những nhà đầu tư lũng đoạn thị trường tài chính và cổ phiếu, chẳng hạn như bán khống (short-sell).

(Còn tiếp)

Phạm Quốc Hoàng - William D. Dudley

Lạm phát thấp: Mừng hay lo?


Bây giờ cần phải khôi phục niềm tin giới tiêu dùng, thay vì lạc quan vì lạm phát thấp.

Tổng cục Thống kê vừa công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2014 tăng 0.11% so với tháng trước và tăng 3.23% so với cùng kỳ năm trước. So với đầu năm, CPI tháng 10 chỉ tăng 2.36%, mức tăng thấp nhất trong vòng 11 năm qua. Lạm phát cơ bản (so với cùng kỳ) ở mức 3.09% trong tháng 10/2014 tiếp tục xu hướng giảm kể từ đầu năm.

Điều này là nên mừng hay lo? Thực tế, có lý do để lo lắng về những gì đang xảy ra.

Cựu Chủ tịch Fed, Ben S. Bernanke từng cảnh báo rằng: "Lạm phát thấp là không tốt cho nền kinh tế vì lạm phát rất thấp làm tăng nguy cơ giảm phát, mà có thể gây ra trì trệ cho nền kinh tế" (Nguyên văn: Low inflation is not good for the economy because very low inflation increases the risks of deflation, which can cause an economy to stagnate). Hiện nay, cả châu Âu và Nhật Bản đang phải hứng chịu nạn giảm phát còn nguy hiểm hơn cả lạm phát. Một tỷ lệ lạm phát thấp thường đi kèm với kịch bản tăng trưởng trì trệ, mà có thể nền kinh tế Việt Nam đang gặp phải.

Tại cuộc họp báo ngày 6/10/2014 về Báo cáo cập nhật khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ước tính khoảng đạt 5.4% trong năm nay và khó có thể vượt qua mức 5.5% trước năm 2016. Đó là mức tăng trưởng dưới tiềm năng đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam.

Với mức tăng trưởng kinh tế hiện tại thấp hơn nhiều so với các năm trước, kinh tế Việt Nam có thể đang ở trong giai đoạn mà kinh tế gọi là "disinflation" (thiểu phát), tức là ở giữa hai trường hợp lạm phát và giảm phát. Đó và dấu hiệu của sự xoay chuyển từ lạm phát qua giảm phát (Việt Nam chưa rơi vào giảm phát), là khi đà tăng trưởng sản xuất sút giảm liên tục đi cùng nạn lạm phát, mà dẫn đến hiện tượng trong kinh tế gọi là "suy phát" (stagflation), tức là sản xuất trì trệ đình đốn mà vẫn bị cái bóng của lạm phát đe dọa mà có thể gọi là "lạm phát niềm tin do tâm lý".

Lý do là khi người tiêu dùng thấy hàng hóa có vẻ giảm giá liên tục thì có xu hướng chờ đợi, tạm hoãn mua để chờ giá sẽ giảm hơn nữa. Khi người tiêu dùng chần chừ mua như vậy thì nhà sản xuất bị tồn kho ế ẩm và khi kéo dài thì đến hạn trả nợ ngân hàng nên phải tìm cách bán tháo, có nghĩa là muốn bán còn rẻ hơn nữa. Và dẫn đến hậu quả là cả nhà sản xuất, tức doanh nghiệp, và người tiêu thụ đều “tắc”, khiến kinh tế tuy không "suy trầm" (recession) vì tăng trưởng thấp mà có thể sẽ bị "depression" (suy thoái), là không tăng nữa mà còn giảm.

Hiện nay, các ngân hàng thương mại liên tục hạ lãi suất thấp. Đó là điều tốt, nhưng khi tiền bơm ra lại không đẩy mạnh được vào đầu tư cho sản xuất, và ngân hàng dư thanh khoản vì thiếu doanh nghiệp và người dân đi vay để đưa tiền vào kinh tế, dẫn đến nạn ách tắc thanh khoản, nên các ngân hàng lại đem tiền mua trái phiếu làm nơi trú ẩn an toàn để kiếm lãi. Gặp trường hợp này có thể là vì giới tiêu dùng và các nhà sản xuất vẫn chưa thấy một tín hiệu tin tưởng vì thiếu niềm tin. Cho nên, bây giờ cần phải khôi phục niềm tin giới tiêu dùng, thay vì lạc quan vì lạm phát thấp.

Phạm Quốc Hoàng - William D. Dudle

Phương Thơ(P2)

TTCK thế giới bây giờ chuyển từ đầu tư sang cá cược. Giá cổ phiếu được điều khiển bởi các mối quan hệ giữa người mua và người bán (cung và cầu). Nôm na là cổ phiếu hấp dẫn có nhiều người mua hơn người bán, thì giá cả tăng lên, trong khi cổ phiếu kém hấp dẫn hiệu ứng ngược lại giá sẽ giảm. Các nhà đầu tư hiện nay đánh cược vào biến động tỷ giá. Cụ thể đồng EUR, USD, Yên Nhật,.. Các nhà đầu tư đánh cược vào Ngân hàng trung ương Âu châu ECB mua vào trái phiếu thông qua chương trình nới lỏng định lượng (QE), tức là ECB có thể in thêm bạc đem ra mua chợ mua lại các tài sản đầu tư tài chính. Tất nhiên, không ai nói là "in tiền" theo lối thô thiển như vậy, và trả ra bằng bạc mặt (nói theo ngôn ngữ VN là tiền tươi thóc thật). Thí dụ là ào ạt mua trái phiếu dài hạn khiến năng suất trái phiếu sút giảm, tức là làm lãi suất dài hạn của nhiều loại tín dụng cũng giảm với kết quả tương tự như hạ lãi suất ngắn hạn, khiến đồng bạc EUR mất giá. 

Trên nguyên tắc, khi lãi suất hạ và tiền nhiều thì trị giá đồng bạc phải giảm. Nhưng đồng EUR sẽ mất giá là so với ngoại tệ nào khi mà các nền kinh tế Trung Quốc, Liên bang Nga, Brazil, Chile, Argentina, Ấn Độ, Indonesia, Nam Phi, và Turkey gặp bất chắc khó khăn về kinh tế cũng chả khá mấy? Tiền EUR chỉ mất giá khi lạm phát tại EU cao hơn các nước đó là điều chưa và khó xảy ra trong tương lai. Cho nên, giới đầu tư bắt đầu kéo tiền ra khỏi các TTCK khác và dồn tiền vào TTCK Âu châu, mà tâm điểm là TTCK DAX 30 tại Frankfurt (Đức quốc) và các TTCK khác tại Âu châu. 

Nó cũng giải thích phần nào TTCK VN sụt thanh khoản. Chẳng hạn nếu tôi biết đa số những nhà đầu tư đem bạc tỷ USD, UER ra đánh cá rằng trong tương lai không xa, nền kinh tế Âu châu sẽ hồi phục, và đồng EUR sẽ tăng giá trở lại, thì tôi chẳng dại gì đem tiền ra đánh cá ngược vào các TTCK khác như TTCK VN chẳng hạn. Ngược lại, tôi sẽ đánh cá theo thị trường và đám đông, là các quỹ đầu tư lớn và cũng đầu tư vào TTCK Âu châu chứ không đầu tư vào TTCK VN hay các nước khác. Bởi lẽ nếu kinh tế Âu châu phục hồi, đồng EUR tăng giá như cũ, những nước tưởng khôn hơn thiên hạ khi thấy đồng EUR rẻ và đi vay tiền bừa bãi, tức là đi vay từ các chủ nợ là nhà đầu tư bên ngoài, là nhà đầu tư quốc tế, và vay bằng đồng tiền mạnh EUR dẫn đến dẫn đến lạm phát nợ của quốc gia đó là bằng đồng EUR chứ không phải là đồng nội tệ những quốc gia vay tiền, có nghĩa là làm "phá giá đồng tiền", hay "currency devaluations" của quốc gia đó và tôi sẽ bị lỗ lã nặng nề, cho dù kịch bản cổ phiếu tôi đầu tư vào TTCK đó có tăng 10% đi nữa, nếu chuyển đổi ra đồng EUR hay USD tôi cũng lỗ nặng đấy Lan Ngọc chủ bút bài báo Vneconomy này ạ !

Giải mã tâm lý bầy đàn trên thị trường chứng khoán


Tâm lý bầy đàn (herd mentality) là chất kích thích "doping" cho thị trường chứng khoán, khiến thị trường này rơi xuống một đáy mới hay xác lập một đỉnh cao hơn.

Một đợt sụp đổ của thị trường chứng khoán là mỗi khi thị trường mất hơn 10% trong một hoặc hai phiên giao dịch. Điều này khác biệt với một đợt điều chỉnh khi thị trường mất 10% hoặc ít hơn trong giai đoạn nhiều ngày.

Đợt điều chỉnh của thị trường có thể bắt nguồn từ một số sự kiện tạo ra sự sợ hãi và bán hoảng loạn liên tục. Đó là sự điên cuồng của sự tham lam rồi quay sang hoảng loạn sợ hãi, và nhà đầu tư bán ra bằng mọi giá. Sự sụp đổ giá chứng khoán này có thể lây lan sang các loại tài sản khác và cuối cùng là toàn bộ nền kinh tế.

May mắn thay, nhà đầu tư không cần phải là một nhà kinh tế hoặc nhà phân tích thị trường chứng khoán để có thể cảm nhận được những gì đang xảy ra do tâm lý bầy đàn. Tuy nhiên, các nhà đầu tư phải hiểu rằng, nền kinh tế và thị trường chứng khoán là hai lực lượng khác nhau trong ngắn hạn. Thị trường chứng khoán vẫn có thể tăng điểm mạnh mẽ bất chấp tin tức nền kinh tế bất ổn, vì các nhà đầu tư lớn thường đặt cược vào tương lai. Vì tin rằng đó chỉ là tâm lý bầy đàn nên họ sẽ mua vào làm tăng giá cổ phiếu, khiến nhiều người lỡ bán lại tiếc rẻ.

Thị trường chứng khoán có thể di chuyển nhanh chóng trong hai hướng tăng giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, điển hình như cung và cầu của người mua và người bán. Không giống như các nhà đầu tư dài hạn, nhà đầu tư ngắn hạn thường đặt cược vào sự thay đổi giá bằng cách dựa vào biểu đồ phân tích kỹ thuật biến động giá hàng ngày (daily price swings). Có lẽ đây là sở trường khai thác đã được học tắt đón đầu của nhà đầu tư Việt Nam.

Tuy nhiên, phương pháp phân tích kỹ thuât không có tác dụng hữu ích khi thị trường chứng khoán gặp phải tâm lý bầy đàn. Phân tích cơ bản có thể giúp nhà đầu tư dài hạn kiếm bộn tiền khi tâm lý bầy đàn bán tháo cổ phiếu chuyển sang tâm lý hưng phấn tột cùng khi họ đã thành công trong việc bắt "đáy” thị trường (market bottom), lúc giá cổ phiếu đi xuống rồi phục hồi xác lập một mức đỉnh cao hơn. Những nhà đầu tư lớn nhất không sử dụng phân tích kỹ thuật để đánh cược vào tâm lý bầy đàn.

Chỉ trong sáu tháng mà giá dầu sụt giảm tới hơn 60% thì nhóm cổ phiếu của các đại gia khai thác và bán dầu của các nước đều bị thiệt hại vì sụt giá chứng khoán. Thí dụ, đối với thị trường Mỹ, các đại gia dầu khí như Chevron Corp (Dow Jones, NYSE: CVX), Exxon Mobil Corp (Dow Jones, NYSE: XOM); hay của Việt Nam là Tổng Công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (HOSE: PVD), Tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (HNX: PVS)... trong ngắn hạn sụt giá đảo điên rồi hồi phục như đã thấy.

Thế nhưng, chính tâm lý bầy đàn đẩy mạnh đà bán tháo và thanh khoản sụt giảm, nhưng lại có một mối lợi về trung hạn hay dài hạn là sự tích lũy vốn bắt đáy của các nhà đầu tư dài hạn, giới đầu cơ và các quỹ đầu tư đối xung (Hedge Fund). Giới đầu tư tài chính này phải chịu rủi ro rất lớn khi đoán sai nhưng lại lời lãi rất cao nếu đoán đúng, họ sẽ là tác nhân đẩy giá cổ phiếu tăng vọt. Tuy họ đầu tư theo kiểu đóng chốt theo hai cửa trái ngược (nên mới gọi là đối xung) để nếu có nhóm cổ phiếu sụt giá thì sẽ giúp họ bớt rủi ro, hoặc nếu hai cửa đều tăng giá thì họ kiếm lời rất lớn. Một khi họ rót vốn là rất lớn nên sẽ đẩy sự phấn khích khiến giá cổ phiếu tăng vọt lên đỉnh mới. Nếu tin tức vĩ mô cho thấy nền kinh tế phục hồi khả quan, các hedge fund này của Mỹ đang nhăm nhe nhảy vào thị trường chứng khoán Việt Nam trong tương lai không xa. Đó là “ưu điểm” của tâm lý bầy đàn trên thị trường chứng khoán khi kích động lòng tham của giới đầu tư.

Bài học kinh nghiệm về tâm lý bầy đàn đối với thị trường chứng khoán Việt Nam là khi nhìn vào các chỉ số thị trường, điều quan trọng là nhìn vào các xu hướng dài hạn (thường là qua 52 tuần) và xem các chỉ số có dấu hiệu thay đổi xu hướng hay tốc độ tăng trưởng của cổ phiếu.

Tâm lý bầy đàn lên cao trào khi các nhà đầu tư bị nhiễu loạn thông tin, kể cả "tin vịt" vì lý do kinh tế như tỷ giá biến động, bất động sản đóng băng, nợ xấu ngân hàng, lạm phát tăng trở lại, hay căng thẳng ngoài biển Đông,... như đã thấy trong quá khứ có thể dẫn đến thanh khoản đang tăng đột biến rồi co cụm lại, vì nhà đầu tư kéo tiền ra.

Tuy nhiên, một kinh nghiệm mà nhà đầu tư trong nước cần chú ý là với một thị trường chứng khoán chưa đủ sâu rộng về vốn hóa sẽ khiến cho việc bán tháo hay thoái vốn của các quỹ đầu tư lớn do tâm lý bầy đàn sẽ trở khó khăn, không khả thi. Bởi vì, nếu họ bán tháo hay thoái vốn quá nhanh thì họ sẽ không tìm được người mua. Nếu họ liều lĩnh bán tháo trực tiếp trên sàn giao dịch với quy mô lớn thì sẽ làm giá cổ phiếu của họ đang nắm giữ sụt giảm mà vẫn không có lực hấp thụ và bị lỗ nặng. Vì vậy, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ không có biến động về tâm lý bầy đàn thái quá.

Thứ nữa, mấu chốt ở đây vẫn là các nhà đầu tư Việt Nam phải có bản lĩnh. Nếu các nhà đầu tư Việt Nam cũng hùa theo tâm lý bầy đàn, cũng đầu tư vào cửa bán thì sẽ góp phần làm giá cổ phiếu sụt giảm nặng hơn nữa.

Một thí dụ về tâm lý bầy đàn do "tai nạn ngoài ý muốn" hay gặp trên thị trường chứng khoán. Chẳng hạn là từ vụ “scandal” sữa nhiễm khuẩn trước kia của Tập đoàn sữa Fonterra (New Zealand), và các nhà đầu tư phải đặt câu hỏi tại Việt Nam sẽ có công ty sản xuất sữa nào dính dáng tới sản phẩm sữa của New Zealand hay không. Trước mắt, dù các công ty tại Việt Nam không dính dáng đến Tập đoàn sữa Fonterra, nhưng chắc chắn rằng cổ phiếu của các công ty sản xuất sữa của Việt Nam, chẳng hạn như như Vinamilk (HOSE: VNM), sẽ sụt giá, mà sụt khá nặng, vì tâm lý ưa hốt hoảng của giới đầu tư. Đó là cơ hội cho nhà đầu tư chứng khoán kiếm mối lợi rất lớn. Họ lập tức bán nhanh cổ phiếu công ty sữa của các nhà sản xuất tại Việt Nam, dù lúc ấy nó vẫn tăng điểm nhẹ, vì chắc chắn là vài phiên sau nó sẽ sụt rất nặng.

Khi cổ phiếu đó sụt giảm về mức mà họ thấy hợp lý thì lập tức họ mua vào trước khi nó sẽ tăng vọt trở lại sau khi người ta chứng minh được các công ty sữa của Việt Nam là an toàn, thậm chí sản phẩm sữa Vinamilk của Việt Nam sẽ trở lên khan hiếm bởi người tiêu dùng sẽ quay sang săn lùng và đẩy doanh thu gia tăng. Và nếu biết khôn khéo quảng cáo sản phẩm trên phương tiện truyền thông ở thời điểm đó thì cổ phiếu công ty sản xuất sữa đó sẽ tăng vọt khá mạnh mẽ và lãi bạc tỷ bởi trò chơi cá cược ly kỳ do tâm lý bầy đàn gây ra.

Phạm Quốc Hoàng, William D. Dudley