Showing posts with label Ngân hàng. Show all posts
Showing posts with label Ngân hàng. Show all posts

April 18, 2015

NGÀNH NGÂN HÀNG ĐÃ BƯỚC QUA GIAI ĐOẠN KHÓ KHĂN NHẤT

ĐTCK - 18/04/2015 8:10:43 SA 


Sau hai năm các ngân hàng tập trung vào nhiệm vụ ưu tiên là giải quyết nợ xấu, ổn định hoạt động, trong khi các nhà điều hành giải quyết được một phần nhiệm vụ là lành mạnh hóa môi trường kinh doanh ngân hàng theo Đề án Tái cơ cấu các tổ chức tín dụng, chúng tôi nhìn thấy những dấu hiệu đầu tiên sẵn sàng cho sự tăng trưởng trở lại tại một số ngân hàng lớn.

Triển vọng ngành ngân hàng trong 2015

Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành trong năm 2015 giảm về mức 3%. Cơ sở cho nhận định này thứ nhất là Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành nhiều quy định có tính ràng buộc, khiến các ngân hàng phải tích cực hơn trong xử lý nợ xấu như TCTD có tỷ lệ nợ xấu trên 3% không bán nợ cho VAMC sẽ bị thanh tra (Nghị định 53/2013), không được mở thêm chi nhánh (Thông tư 21/2013/TT-NHNN) hay các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu dưới 3% mới được cho vay đầu tư cổ phiếu (Thông tư 36/2014/TT-NHNN).

Thứ hai, Thông tư 36 tăng giới hạn tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 60%, tạo điều kiện cho các ngân hàng có thể cơ cấu lại các khoản nợ ngắn hạn có rủi ro thành nợ dài hạn trước khi điều khoản cho phép cơ cấu lại nợ theo Thông tư 09 hết hạn (31/03/2015). Thứ ba, tăng trưởng tín dụng dường như đang tăng tốc nhanh hơn trong khi sự tham gia mua nợ của VAMC đã phần nào làm chậm lại tốc độ tăng nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ do đó được kéo giảm.





Lợi nhuận giữa các ngân hàng sẽ phân hóa, tùy thuộc vào mức độ chặt chẽ trong phân loại nợ và trích lập chi phí dự phòng ở các năm trước và triển vọng thu nợ ngoại bảng, gắn liền với sự phục hồi của nền kinh tế.


Theo Thông tư 02/2012 và Thông tư sửa đổi bổ sung 09, từ ngày 1/1/2015, các TCTD phải sử dụng kết quả phân loại nhóm nợ đối với khách hàng do Trung tâm Thông tin tín dụng của NHNN (CIC) cung cấp để điều chỉnh kết quả tự phân loại nợ.


Theo đó, một số ngân hàng đã thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng theo sát hệ thống phân loại nợ của CIC sẽ ít bị ảnh hưởng khi quy định phân loại nợ theo kết quả phân loại của CIC có hiệu lực từ đầu tháng 1/2015.




Ngoài ra, các ngân hàng đã thực hiện xóa nợ cũng có thể ghi nhận lợi nhuận đột biến nếu thu được nợ từ nợ ngoại bảng nhờ thị trường bất động sản phục hồi và sự cho phép tái cơ cấu nợ của NHNN trước đây đã tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp khôi phục lại hoạt động sản xuất - kinh doanh.

Hoạt động phát hành tăng vốn và M&A dự kiến sôi động và giúp giảm áp lực thoái vốn tại một số TCTD theo quy định của Thông tư 36. Theo điều khoản quy định liên quan, NHTM nếu đáp ứng được các điều kiện cho phép nắm giữ cổ phiếu, thì giới hạn nắm giữ (trừ trường hợp hỗ trợ tái cơ cấu theo chỉ định của NHNN) là (a) sở hữu cổ phiếu của không quá 2 TCTD khác, trừ trường hợp TCTD là công ty con của NHTM đó và (b) tỷ lệ nắm giữ tối đa là dưới 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết của TCTD khác đó. Theo quy định này, sẽ có nhiều trường hợp NHTM phải thoái vốn do có tỷ lệ hoặc số lượng TCTD nắm giữ vượt quá giới hạn cho phép.





Ở chiều ngược lại, chúng tôi nhận thấy nhiều kế hoạch phát hành thêm cũng như sáp nhập giữa các ngân hàng đã được công bố như tại BID, VCB, MBB, Saigonbank, Maritimebank… Việc tăng vốn bằng phát hành riêng lẻ sẽ làm giảm tỷ lệ sở hữu của NHTM tại TCTD tăng vốn trong khi việc hợp nhất sẽ làm giảm số lượng ngân hàng, hai hình thức này sẽ góp phần giảm bớt áp lực phải thoái vốn.




Ngành ngân hàng đã đi đến những bước cuối cùng của giai đoạn tái cấu trúc 2011 – 2015, bài toán xử lý nợ xấu cũng trở nên dễ dàng hơn nhờ sự ra đời và tham gia tích cực của VAMC và chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp sản xuất và các gói giải cứu của Chính phủ dành cho lĩnh vực bất động sản được kỳ vọng sẽ giúp hệ thống ngân hàng thu hồi nợ nhanh hơn.


Bên cạnh đó, các ngân hàng đã tỏ ra năng động hơn khi chuyển trọng tâm từ phục vụ thành phần kinh tế là các tổ chức lớn sang lĩnh vực bán lẻ gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh gia đình và tài chính cá nhân.


Sự chuyển hướng này không chỉ giúp các ngân hàng tránh được sự phụ thuộc quá lớn vào thu nhập từ lãi, vốn khá nhạy cảm với các chính sách tiền tệ của NHNN, mà còn tạo điều kiện để các ngân hàng cải thiện tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) vốn đã suy giảm liên tục kể từ năm 2011. Những lý do này là động cơ thúc đẩy cổ phiếu ngân hàng tăng trưởng mạnh trong những tháng đầu năm và kỳ vọng sẽ là nhóm ngành dẫn dắt thị trường trong năm 2015.

Chọn lọc cổ phiếu

Chúng tôi cho rằng, vẫn còn nhiều thách thức chờ đợi các ngân hàng phía trước, do những rủi ro song hành với quá trình tái cấu trúc nền kinh tế và áp lực cạnh tranh gia tăng khi mọi ngân hàng đều hướng đến khai thác mảng kinh doanh bán lẻ. Trong bối cảnh như vậy, các ngân hàng có khả năng quản trị rủi ro tốt và có kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng bán lẻ sẽ là những ngân hàng có khả năng bứt phá cao nhất.





Với quan điểm này, những ngân hàng ACB, BID, CTG, EIB, SHB, MBB, STB, VCB là những ngân hàng được chúng tôi đánh giá cao ở một trong hoặc tất cả các mặt về (1) hệ thống quản trị rủi ro, (2) kinh nghiệm và khả năng tạo bứt phá ở mảng ngân hàng bán lẻ, và (3) triển vọng lợi nhuận khả quan, gắn liền với sự phục hồi của lĩnh vực bất động sản và xây dựng.

January 5, 2015

Fitch đánh giá tín nhiệm MB ổn định

Hãng xếp hạng tín dụng Fitch vừa thông báo xếp hạng nợ dài hạn của Ngân hàng Quân đội Việt Nam (MB) được đánh giá ở 'B' với triển vọng ổn định.

Xếp hạng này phản ánh tình hình tài chính và khả năng quản trị rủi ro tương đối mạnh so với các ngân hàng trong nước. Fitch cũng đánh giá hoạt động mở rộng chi nhánh của MB khá tốt trong vai trò một trong những nhà băng thương mại tư nhân lớn nhất Việt Nam. Mức tín nhiệm này cũng dựa trên tốc độ tăng trưởng cho vay trên trung bình ngành và tỷ lệ tiền gửi của khách hàng doanh nghiệp cao. Đây là lần đầu tiên Fitch đánh giá tín nhiệm với MB.

Báo cáo của MB cho thấy họ có hệ thống phân loại khoản vay thận trọng hơn nhiều nhà băng khác. Đến cuối tháng 6/2014, nợ xấu của MB là 3,11%, nằm trong giới hạn cho phép theo Thông tư số 2 của Ngân hàng Nhà nước. Các khoản vay của MB cũng phân bổ trên nhiều ngành và có tỷ lệ thế chấp cao. Những nền tảng tín dụng này sẽ giúp giảm thiểu các rủi ro tiềm tàng từ tăng trưởng cho vay mạnh của MB. Ngân hàng đang đặt mục tiêu tăng quy mô tài sản với tốc độ gấp 1,5-2 lần trung bình ngành trong trung hạn.

Fitch dự đoán MB sẽ duy trì được vốn hóa quanh mức hiện tại, do tăng trưởng tài sản nhanh có thể được hỗ trợ bởi khả năng tạo vốn nội bộ cao và phát hành vốn mới nếu cần thiết. Thanh khoản và hoạt động cấp vốn cũng được quản lý tốt với tỷ lệ cho vay trên tiền gửi dưới 70% khá xa, nhờ tăng trưởng tiền gửi mạnh những năm gần đây. Trái với nhiều nhà băng khác, MB phụ thuộc khá lớn vào lượng tiền gửi từ doanh nghiệp với tỷ lệ 63% tính đến hết tháng 6/2014.

Lượng tiền gửi doanh nghiệp tại MB có đóng góp khá lớn từ các khối nhà nước. Họ cũng có khả năng tiếp cận rộng nhờ mạng lưới chi nhánh của Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) - cổ đông lớn nhất của ngân hàng. Chi phí đi vay thấp và ít phụ thuộc vào mạng lưới chi nhánh bán lẻ cũng đã hỗ trợ khoản lời từ cho vay và lợi nhuận tổng của nhà băng. Các số liệu này đều cao hơn so với các nhà băng khác trong nước.

Thông tư 36 cấm một ngân hàng sở hữu trên 5% một nhà băng khác có thể khiến cấu trúc cổ đông của MB thay đổi trong năm nay, nhưng sẽ không ảnh hưởng đáng kể đến xếp hạng tín dụng ngân hàng này. Fitch cho rằng MB sẽ không gặp khó khăn đáng kể khi tìm kiếm nhà đầu tư mới.

Hãng cho biết có thể nâng xếp hạng của MB nếu vốn hóa của hãng được cải thiện, tăng trưởng cho vay bền vững và mạng lưới chi nhánh tăng trong khi vẫn duy trì được kết quả kinh doanh. Môi trường ngân hàng tại Việt Nam và chính sách quản lý được củng cố cũng sẽ giúp MB thăng hạng.

Tuy nhiên, nếu chất lượng tài sản MB giảm sút đáng kể khiến vốn hóa đi xuống, hoặc mối quan hệ với Viettel thay đổi khiến chi phí hoạt động tăng lên sẽ khiến MB bị hạ bậc. Khả năng bị mua bán - sáp nhập cũng có thể gây tác động tiêu cực.

November 24, 2014

Thông tư 36: Điểm danh những khoản đầu tư trên 5% của ngân hàng tại TCTD khác

Vietcombank hiện đang sở hữu cổ phần của 5 ngân hàng và công ty tài chính khác, 4 trong số này sở hữu trên 5%

Điều 20 của Thông tư 36 đã có những giới hạn về việc ngân hàng thương mại mua, nắm giữ cổ phiếu của các tổ chức tín dụng (TCTD) khác. Theo đó, ngân hàng thương mại chỉ được nắm giữ cổ phiếu của tối đa không quá 2 TCTD khác, trừ trường hợp TCTD khác là công ty con của ngân hàng đó.

Bên cạnh đó, tỷ lệ nắm giữ tại TCTD khác phải dưới 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết của TCTD khác đó và không được cử người tham gia hội đồng trị quản trị của TCTD mà ngân hàng mua mua cổ phần, trừ trường hợp TCTD đó là công ty con của ngân hàng hoặc ngân hàng thương mại tham gia tái cơ cấu, xử lý TCTD yếu kém theo chỉ định của Ngân hàng Nhà nước.

Các trường hợp ngoại lệ được thực hiện khi việc mua, nắm giữ cổ phiếu nhằm tái cơ cấu, hỗ trợ tài chính cho TCTD gặp khó khăn và được Ngân hàng nhà nước chấp thuận hoặc được Ngân hàng nhà nước chỉ định theo quy định của pháp luật.

Hiện tại, có một số trường hợp ngân hàng thương mại đang sở hữu trên 5% cổ phần của các ngân hàng, công ty tài chính cũng như sở hữu cổ phần của nhiều hơn 2 TCTD.

Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam – Vietcombank hiện đang sở hữu cổ phần tại ít nhất 5 TCTD gồm Ngân hàng Quân Đội (MB), Ngân hàng Phương Đông (OCB), Eximbank, Saigonbank và Công ty Tài chính Xi măng. Trong số này, chỉ có Saigonbank là sở hữu dưới 5% (xem biểu đồ phía dưới).

Ngân hàng Hàng Hải - Maritime Bank hiện đang đầu tư vào MB (9,9%), MDBank (10,2%) và Tài chính Dệt may (11%). Hiện Maritime Bank đã được Ngân hàng nhà nước chấp thuận mua lại Công ty Tài chính Dệt may và MDBank thì có chủ trương sáp nhập vào Maritime Bank.

Không tính việc các ngân hàng thương mại góp vốn vào các ngân hàng liên doanh thì một số trường hợp sở hữu trên mức 5% còn có Vietinbank sở hữu 10,4% Saigonbank, ABBank sở hữu 8,4% EVN Finance và Techcombank sở hữu 10% Tài chính Hóa chất.

Hiện nhiều ngân hàng đã và đang tìm mua lại các công ty tài chính như Techcombank mua lại Tài chính Hóa Chất (VCFC), VPBank mua Tài chính Than Khoáng sản, HDBank mua công ty tài chính SGVF, SHB mua công ty Tài chính Vinaconex Viettel…

Thông tư 36 có hiệu lực từ 1/2/2015, do vậy các ngân hàng chỉ có hơn 2 tháng để thực hiện các điều chỉnh theo các quy định của thông tư này.


September 7, 2014

Nhiều Góc Nhìn Về Nợ Xấu



GNA: Sau khi TS Alan Phan khuyên NHNN nên để cho VAMC bán nợ xấu với giá thanh lý, nhiều chuyên gia đã phản biện.

- Theo ông Bùi Kiến Thành, khó bán nợ xấu như hàng thanh lý vì cơ chế pháp lý không rõ ràng, người mua sẽ không làm gì được với tài sản thâu tóm…

- Theo báo Đầu Tư, nhiều nhà đầu tư nước ngoài sẵn sàng mua với giá 30% thị giá, nhưng NHNN, VAMC và chủ nợ chê là giá quá bèo…

- Theo GS Đỗ Thiên Anh Tuấn của chương trình Fulbright, vấn đề mấu chốt là cần phải khơi thông nợ xấu bằng cách bán đi các tài sản đảm bảo, cho phá sản doanh nghiệp… để lấy tiền

- Theo TBKTSG, việc phẫu thuật nợ xấu sẽ không bao giờ thành công vì VAMC …không có tiền thật (chỉ giấy..)

- Hỏi lại ông già Alan, ông nói nếu NHNN bán với giá 10% của giá vốn, ông bảo đảm sẽ tổ chức một quỹ quốc tế và mua hết nợ trong 2 năm.

Vì đây là một đề tài quan trọng cho mặt trận kinh tế, GNA xin đăng lại tất cả các góc nhìn từ các chuyên gia.

GNA

Ông Bùi Kiến Thành:Khó bán nợ xấu như hàng thanh lý vì….

Báo Đất Việt – Nguyên Thảo – 3/9/2014

Các ngân hàng thương mại cố che giấu nợ xấu, làm biến mất đi một số nợ xấu nhưng thực tế nợ xấu không mất đi được.

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành cho biết về cách đối mặt với tình trạng nợ xấu trầm trọng trong hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng của Việt Nam. Đồng thời, chuyên gia Bùi Kiến Thành cũng cho biết, khó có thể bán nợ xấu như hàng thanh lý, quan điểm này khác với những gì chuyên gia kinh tế TS Alan Phan đã nêu ra trong bài viết trước.

Theo đó, chuyên gia Bùi Kiến Thành cho rằng, sẽ không có ai mua vì mua không để làm gì, thanh lý “đống nợ” đó bằng cách nào? Ai sẽ mua những tài sản đó? Với giá nào? Trong thời hạn bao nhiêu lâu? Nhất là với nợ xấu liên quan đến bất động sản đi liền với các thủ tục giấy tờ đất đai có giải quyết được không? Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào rõ ràng về việc này.

Ngân hàng che đậy nợ xấu

PV: - Nợ xấu tại hầu hết các ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính tính đến 30/6/2014 đều tăng, có ngân hàng đã vượt mức 5%, thậm chí từ 7-8%. Theo đó, mức bình quân hệ thống đến tháng 6/2014 tăng 21,5% so với cuối tháng 5/2014 và tăng 38,2% so với cuối năm 2013.

Đặc biệt, nợ xấu theo báo cáo có lúc tăng, giảm cụ thể cuối năm 2013 chỉ hơn 3%, đến tháng 4/2014 tại cuộc họp Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng nhà nước (NHNN) báo cáo là 7%, sau đó tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm ngành ngân hàng nợ xấu được báo cáo chỉ còn hơn 4%. Trong khi Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s từng công bố nợ xấu của Việt Nam có thể lên đến 15%.

Theo ông, với những con số trên phải nhìn nhận về tình hình nợ xấu như thế nào? Việc nợ xấu tăng giảm và có khả năng sẽ ở mức cao cho thấy điều gì?

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành: - Con số nợ xấu tiền hậu bất nhất do có nhiều lý do. Ví dụ vào cuối năm 2013, NHNN cho phép ngân hàng thương mại cấu trúc nợ xấu bằng phương thức cho doanh nghiệp vay mới để trả nợ cũ tức là đáo nợ. Nợ xấu biến thành nợ mới và là nợ không xấu do chưa tới hạn.

Đây là những thủ thuật làm việc giữa các cơ quan quản lý nhà nước và ngân hàng thương mại cố che giấu nợ xấu, làm biến mất đi một số nợ xấu nhưng thực tế nợ xấu không mất đi được. Về việc này quản lý nhà nước nên làm rõ đừng bịt mắt đi trong đêm tối, như vậy càng không có cách nào giải quyết được khó khăn.

Vấn đề thứ 2, một số nợ xấu được bán cho Công ty Quản lý tài sản VAMC, thực tế là các ngân hàng thương mại quét nhà, dọn rác và VAMC tiếp nhận một đống rác, một đống nợ xấu. Sau đó hệ thống ngân hàng tự tin nói rằng không còn nợ xấu do nợ xấu không còn trong báo cáo tài chính của ngân hàng.

Năm 2013 NHNN từng ra Thông tư 02 yêu cầu ngân hàng khai báo nợ xấu và phải phân loại nợ theo quy định nhưng các ngân hàng cho rằng như vậy sẽ nguy hiểm tới hệ thống ngân hàng, NHNN đã “thông cảm” và gia hạn đến 1/6/2014 nhưng đến nay ngân hàng vẫn không thực hiện việc kê khai, xếp hạng lại nợ xấu.

Đồng thời, NHNN cũng không cương quyết buộc ngân hàng phải khai báo trung thực nợ xấu khiến những con số về nợ xấu từ năm 2012 đến nay vẫn mù mờ, không phản ánh đúng thực trạng. Con số khi lên, khi xuống tùy tiện, quản lý nhà nước phải làm rõ để cả nước nắm biết được tình hình các ngân hàng thế nào, không thể để ngân hàng muốn nói gì thì nói, muốn khai gì thì khai.

Hiện, một phần rất lớn nợ xấu đã đi vào bất động sản, chứng khoán. Chứng khoán khi đã thua lỗ không có cách nào để gỡ, thu hồi. Còn bất động sản đang nằm một đống, phân khúc sản phẩm cao cấp không có thị trường, không có đầu ra mà muốn có đầu ra người mua phải có tiền, nhưng hiện nay hàng trăm nghìn doanh nghiệp đang chết, tiền trong dân không có để mua bất động sản, bất động sản vẫn nằm yên đó.

PV: - Mới đây, NHNN vừa có chỉ đạo các ngân hàng thương mại mở rộng cho vay tín chấp. Tuy nhiên, nếu theo phản ánh của các ngân hàng thương mại, đối tượng đáp ứng được điều kiện cho vay tín chấp phải có các điều kiện như vốn điều lệ trên 100 tỷ, doanh thu tháng… ưu thế sẽ lại thuộc về các doanh nghiệp nhà nước.

Trong khi đó, báo cáo của Chính phủ gửi đến Quốc hội tính đến năm 2012, cho thấy khoản nợ vay từ các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 402.955 tỷ đồng, tương ứng 1/3 tổng dư nợ của cả nền kinh tế.

Ông bình luận như thế nào về chủ trương này và tác động của nó tới vấn đề nợ xấu như thế nào? Và việc doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục được cấp tín dụng nhiều hơn khối doanh nghiệp tư nhân và làm ăn thua lỗ sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe hệ thống ngân hàng và toàn nền kinh tế như thế nào?

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành: - Vốn dĩ việc cho vay là trách nhiệm của ngân hàng xác định trường hợp nào là thế chấp, trường hợp nào là tín chấp sau khi nghiên cứu từng dự án phát triển kinh doanh về khả năng hoàn trả vốn, có thể có thế chấp, không có thế chấp, có thể là tín chấp.

Ngoài ra, cho vay tín chấp tại sao nói doanh nghiệp phải có vốn điều lệ 100 tỷ đồng mới cho vay? Điều này phải dựa trên hiệu quả kinh doanh thay vì vốn điều lệ. Vì có doanh nghiệp chỉ có 2-3 tỷ đồng vốn điều lệ nhưng sản phẩm tốt, thị trường tốt, không thể vin vào vốn điều lệ. Làm như vậy sẽ không hợp lý, không đúng pháp luật.

Việc quy định vốn điều lệ trên 100 tỷ đồng mặc nhiên thừa nhận việc cho vay tín chấp phần lớn nhằm vào các doanh nghiệp nhà nước. Nhưng vấn đề vốn điều lệ của các doanh nghiệp nhà nước có thể là 10.000 tỷ đồng nhưng tại thời điểm hiện tại có thể âm, tiếp tục xin giảm nợ, xóa nợ, mắc nợ nhà nước. Vì vậy nó không phản ánh sức khỏe thật sự của doanh nghiệp nên không thể đưa ra những điều kiện như vậy.

Các doanh nghiệp nhà nước từ trước đến giờ vẫn được coi như con cưng còn các doanh nghiệp tư nhân như con ghẻ, thể hiện chế độ bao cấp, tư duy kinh tế tập trung, không phải là kinh tế thị trường. Nhà nước chỉ đạo ngân hàng cho doanh nghiệp nhà nước vay mặc dù hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước là thua lỗ nên vấn đề này không hợp lý.

Ngân hàng phải nghiên cứu từng dự án, từng doanh nghiệp, sức khỏe của doanh nghiệp. Dự án phát triển kinh doanh dựa trên sản phẩm, thị trường, thị phần, ban lãnh đạo… để quyết định cho vay chứ không thể đưa ra quyết định duy ý chí. Việc nhà nước tạo điều kiện để doanh nghiệp nhà nước được vay, tạo khó khăn thêm cho doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ – lực lượng tạo ra lao động nhiều nhất khiến thành phần này khó tiếp cận được nguồn vốn sẽ khiến nền kinh tế trì tệ không phát triển được.

Nếu tình trạng này xảy ra, không có những biện pháp giải quyết nợ xấu chồng chất lên nợ xấu, các doanh nghiệp nhà nước lỗ vẫn tiếp tục lỗ, và nợ xấu tiếp tục tăng thêm trong khi doanh nghiệp vừa và nhỏ không được tiếp cận được nguồn vốn thì không thể phát triển.

Khó bán nợ xấu như hàng thanh lý!

PV: - Về việc xử lý nợ xấu, năm 2013 Tổng công ty quản lý tài sản của các Tổ chức tín dụng Việt Nam VAMC đã mua lại khoảng 39.000 tỷ đồng nợ xấu nhưng sang năm 2014 quá trình này chững lại, 6 tháng đầu mới mua được 11.414 tỷ nợ gốc. Trong khi VAMC vẫn mua nợ xấu bằng “giấy” và chưa tìm được đầu ra cho những khoản nợ xấu đã mua. Theo ông đây có phải chỉ là hình thức giảm nợ xấu ảo, thực tế nợ xấu không những giảm mà còn tăng thêm vì nợ xấu dồn về VAMC và VAMC không bán được nên phải cộng lãi vốn mua vào tổng khối nợ?

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành: - Rõ ràng VAMC mua hàng mấy chục nghìn tỷ đồng nhưng bán ra chỉ khoảng hơn 1.000 tỷ đồng. VAMC ôm nợ xấu để giúp các ngân hàng giải quyết vấn đề báo cáo tài chính chứ không giải quyết được nợ xấu, và nợ xấu vẫn là nợ xấu, nó không nằm trong kho của ngân hàng mà chuyển sang nằm trong kho của VAMC.

Nhưng có vấn đề khác là VAMC đã trả cho ngân hàng bằng trái phiếu đặc biệt để ngân hàng có thể thế chấp vay từ ngân hàng nhà nước. Làm ăn bê bối, tạo ra nợ xấu rồi không có thanh khoản để cho vay tiếp thì cứ đem nợ xấu bán cho VAMC, lấy trái phiếu đặc biệt đi thế chấp vay ngân hàng nhà nước, nhà nước lại cung cấp tiền cho ngân hàng để ngân hàng tiếp tục cho vay và tiếp tục tạo thêm nợ xấu.

PV: - Vừa qua, NHNN có đề nghị xin tiền cấp cho VAMC mua nợ, về bản chất là lấy tiền ngân sách ra mua những khoản tiền mà ngân sách đã cấp và đã bị tổn thất thành nợ xấu. Ông có bình luận gì về điều này?

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành: - Tại sao phải cấp tiền cho VAMC, VAMC mua nợ xấu có trả bằng tiền mặt đâu? VAMC có vốn điều lệ 500 tỷ đồng nhưng đã mua đến 50.000 tỷ đồng nợ xấu. VAMC được nhà nước cho phép phát hành trái phiếu đặc biệt, nếu lấy thêm từ ngân sách nhà nước thì bao nhiêu cho đủ? Không có doanh nghiệp nào như VAMC vốn điều lệ 500 tỷ đồng mua 50.000-60.000 tỷ đồng, ôm một đống nợ xấu, không bán được, không đòi nợ được, và vẫn còn tiếp tục mua vào đến bao nhiêu nữa?

Hoạt động của VAMC cũng đặt ra yêu cầu các ngân hàng phải trích lập dự phòng 20%/năm trong 5 năm, có nghĩa là sau 5 năm nếu không giải quyết được VAMC sẽ trả lại cho ngân hàng để tự giải quyết nợ xấu đó nhưng ngân hàng làm sao trích lập được dự phòng, lấy tiền đâu ra? Do những ngân hàng có nhiều nợ xấu đều là những ngân hàng ốm yếu, làm ăn thua lỗ.

PV: - Có ý kiến cho rằng việc bán nợ xấu phải được bán như bán hàng thanh lý không thể đòi hỏi mức giá cao như mong muốn, ông có đồng tình với quan điểm này không? Nếu thực hiện bán nợ xấu như bán hàng thanh lý thì trên thực tế sẽ diễn ra điều gì, có nhiều DN bị phá sản không, thưa ông?

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành: - Nợ xấu của Việt Nam phần nhiều có thế chấp, không hoàn toàn vô giá trị. Nguyên tắc là cho vay đến mức tối đa 50% giá trị tài sản thế chấp nhưng nhiều khi giá trị của tài sản được thổi phồng lên nhiều lần giá trị thực.

Các nước không làm thế, phần lớn họ cho vay tín chấp nên khi nợ thành nợ xấu, nợ không còn giá trị bao nhiêu nên sẽ bán như hàng thanh lý còn ở Việt Nam nợ có thế chấp nên còn phần nào giá trị, nhưng để siết nợ, giải chấp và thanh lý tài sản là không đơn giản. Nhà đầu tư Việt Nam không có tiền mua, nhà đầu tư nước ngoài cũng không mua nợ xấu mà không có giải pháp thu hồi vốn vậy nợ xấu bán cho ai?

Thậm chí giảm 10-20-30-40-50% cũng không có ai mua vì mua không để làm gì? Chẳng hạn, nếu tài sản thế chấp là những thành phố ma xung quanh Hà Nội, nếu siết nợ các thành phố ma đó, thì sẽ thanh lý “đống nợ” đó bằng cách nào? Ai sẽ mua những tài sản đó? Với giá nào? Trong thời hạn bao nhiêu lâu? Và các thủ tục giấy tờ đất đai có giải quyết được không? Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào rõ ràng về việc này.

Nợ xấu trở thành đống rác không có cách nào giải quyết càng để lâu càng tệ. Nợ xấu hoàn toàn bế tắc chưa thấy biện pháp giải quyết, Việt Nam chỉ có một giải pháp là để nợ xấu sang một bên, nhà nước và ngân hàng tạo mọi điều kiện giúp doanh nghiệp phục hồi và phát triển tạo ra công ăn việc làm, để tăng tổng cầu… khôi phục khả năng trả nợ.

Nhưng thực tế nhà nước không có chính sách phù hợp mà lại hành hạ doanh nghiệp với đủ thứ khó khăn, khiến doanh nghiệp chết thêm còn ngân hàng vẫn duy trì mức lãi suất cao, cho vay với yêu cầu phải có tài sản thế chấp nhưng doanh nghiệp không còn tài sản để thế chấp, không phát huy được tín dụng tín chấp chất lượng trên cơ sở kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp. Tóm lại, phải tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp có thể phục hồi bằng những đơn thuốc phù hợp, nếu doanh nghiệp chết sẽ không có ai trả nợ xấu.

PV: - Trong trường hợp vấn đề nợ xấu chưa giải quyết triệt để Việt Nam sẽ phải đối mặt với những nguy cơ gì, thưa ông? Những vấn đề nợ xấu, sở hữu chéo chưa được giải quyết có thể nói đến việc tái cơ cấu nền kinh tế hay không?

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành: - Hệ thống ngân hàng sẽ khốn khó do vướng mắc cho vay và không đòi được nợ. Khó mà có giải pháp nếu không minh bạch thông tin. NHNN yêu cầu các ngân hàng khai đầy đủ nợ xấu, nhưng ngân hàng không khai, bịt mắt mà không chịu nhìn vào thực tế.

Năm 2014, NHNN vẫn đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 12-14% nhưng tăng tín dụng cho ai? Theo một phó thống đốc NHNN từ đầu năm đến nay 90% lượng tiền trong ngân hàng chủ yếu cho Chính phủ vay hay mua trái phiếu Chính phủ, thay vì tăng tín dụng cho doanh nghiệp, và điều này cần phải thay đổi.

Chưa thể giải quyết nợ xấu, sở hữu chéo, lợi ích nhóm, quan liêu, tiêu cực, thì tái cơ cấu gì bây giờ? Chữ “tái cơ cấu” có nghĩa là đang làm ăn không tốt, cần phải “cơ cấu lại” để đạt được kết quả tốt hơn nhưng doanh nghiệp nhà nước “tái cơ cấu” có làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh tốt hơn hay không? Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa nhưng nhà nước vẫn giữ cổ phần chi phối, để duy trì hệ thống quản lý “công chức”, giữ lại những người điều hành không có khả năng thì “tái cơ cấu” gì?

Doanh nghiệp tư nhân đang chết lên, chết xuống, chi phí tiêu cực đè nặng trên vai, lo sống cũng khó, tái để họ sống chứ không tái để họ chết. Chữ “tái” là giúp người đang bệnh, yếu, trở nên ít bệnh, phục hồi, phát triển nhưng hiện chúng ta lại làm ngược lại là xô người ta ngã thêm. Phải nhìn vấn đề cho rõ, tái theo hướng này, thì nền kinh tế sẽ đi về đâu?

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Nguyên Thảo (thực hiện)

VAMC không muốn hay sợ bán nợ xấu ?

Nguồn tin của Báo Đầu tư điện tử – Baodautu.vn cho hay­­­­­­, hiện nhiều nhà đầu tư nước ngoài chỉ trả giá nợ xấu khoảng 30% giá trị tài sản. Mức giá này được các doanh nghiệp và ngân hàng trong nước coi là quá “bèo”.

Thời gian qua, nhiều khoản nợ xấu được Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và các ngân hàng đưa ra bán đấu giá năm, bảy lần, nhưng vẫn thất bại. Dù vậy, lãnh đạo VAMC vẫn khẳng định, mua nợ về không phải để bán.

Nợ mua không phải để bán

Nợ xấu đang tăng mạnh trở lại từ đầu năm đến nay. Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Thị Hồng cho biết, đến cuối tháng 6/2014, nợ xấu ở mức 4,17%, cao hơn mức 4,07% vào cuối tháng 5/2014 và mức 3,61% cuối năm 2013.





Trong khi nợ xấu tăng nhanh thì VAMC – vốn được coi là lực lượng chủ lực trong xử lý nợ xấu, lại đang mua nợ lẫn bán nợ rất chậm chạp.

Theo ông Nguyễn Quốc Hùng, Chủ tịch HĐTV Công ty VAMC, tính đến hết tháng 8/2014,VAMC đã mua 59.000 tỷ đồng nợ xấu. Trong đó, số nợ xấu đã mua từ đầu năm đến nay là 19.630 tỷ đồng với giá trị phát hành trái phiếu đặc biệt là 12.019 tỷ đồng, cách khá xa so với mục tiêu mua 70.000 – 100.000 tỷ đồng nợ xấu mà VAMC đặt ra trong năm 2014.

Việc mua nợ chậm của VAMC có thể không đáng lo, bởi số lượng nợ xấu mà các ngân hàng đăng ký bán cho VAMC đã vượt quá chỉ tiêu của cả năm. Vấn đề đáng lo là việc xử lý nợ, bán nợ diễn ra khá chậm.

Theo nguồn tin của Báo Đầu tư điện tử – Baodautu.vn, số nợ xấu mà VAMC bán ra đến nay mới đạt khoảng trên dưới 1.500 tỷ đồng, rất nhỏ so với số nợ xấu VAMC mua vào và càng không thấm vào đâu so với tổng nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng. Dù từ đầu năm đến nay, các ngân hàng đã xử lý 33.000 tỷ đồng nợ xấu, song số nợ xấu này chủ yếu được xử lý bằng nguồn trích lập dự phòng rủi ro của các ngân hàng chứ không phải thông qua VAMC.

Ông Tô Duy Lâm, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh TP.HCM thừa nhận, 7 tháng đầu năm, các ngân hàng trên địa bàn đã xử lý 8.000 tỷ đồng nợ xấu. Trong đó, số nợ xấu bán cho VAMC chỉ vỏn vẹn 1.000 tỷ đồng, phần còn lại các ngân hàng phải tự xử lý bằng nguồn trích lập dự phòng rủi ro và các giải pháp khác.

Trước ý kiến cho rằng, VAMC chỉ mua nợ để đấy, còn khâu xử lý nợ, bán nợ lại quá chậm, ông Nguyễn Quốc Hùng khẳng định, VAMC không phải mua nợ xấu về bán mà mua về để rà soát, đánh giá và xem xét các khoản nợ, các khách hàng. Theo đó, những doanh nghiệp có khả năng sản xuất kinh doanh, có thể phục hồi được thì sẽ được xem xét điều chỉnh lãi suất, được tiếp tục vay vốn. Thời gian qua, đã có những doanh nghiệp được VAMC và tổ chức tín dụng hỗ trợ vay vốn để tiếp tục sản xuất kinh doanh, trả nợ cũ và nợ mới.

Cũng theo ông Hùng, với những khoản nợ khó có khả năng thu hồi, VAMC phối hợp với các tổ chức tín dụng phát mãi tài sản để thu hồi nợ, tránh thiệt hại nặng thêm. Tuy nhiên, việc bán nợ cũng không hề dễ dàng. Có những khoản nợ, các đơn vị này bán đấu giá tài sản lần thứ ba vẫn chưa thành công. Có ngân hàng tổ chức phát mãi tài sản lần thứ 5, thứ 7 vẫn thất bại, dù ngân hàng đã chấp nhận bán với mức giá thị trường.

Sợ bán nợ?

Việc không “mặn mà” bán nợ của VAMC được một thành viên của Hội đồng tư vấn Chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia lý giải, hiện hầu hết các khoản nợ xấu mà VAMC mua về là nợ xấu của các doanh nghiệp. VAMC mong muốn bán nợ của các doanh nghiệp này với điều kiện các nhà đầu tư mua nợ sẽ xây dựng phương án tái cơ cấu, giúp phục hồi hoạt động, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài đặt vấn đề mua nợ của Viêt Nam hiện nay đều là nhà môi giới, muốn mua nợ giá “bèo” để sau đó bán lại kiếm lời hơn là đầu tư tài chính vào doanh nghiệp.

Nguồn tin của Báo Đầu tư điện tử – Baodautu.vn cho hay­­­­­­, hiện nhiều nhà đầu tư nước ngoài chỉ trả giá nợ xấu khoảng 30% giá trị tài sản. Mức giá này được các doanh nghiệp và ngân hàng trong nước coi là quá “bèo”.

Cho đến thời điểm này, lãnh đạo NHNN vẫn khẳng định, VAMC là mô hình phù hợp với hoàn cảnh đặc thù ở Việt Nam. Tuy nhiên, các mục tiêu đặt ra quá lớn trong khi kinh phí xử lý nợ xấu không có, khiến VAMC chuyển động rất chậm. Nhiều chuyên gia cho rằng, VAMC đang “mua thời gian” hơn là mua nợ.

Về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Hồng khẳng định, tại nhiều nước trên thế giới, chi phí xử lý nợ xấu rất cao (chiếm tới 15 – 20% GDP) trong khi Việt Nam phải xử lý trong điều kiện hạn chế của ngân sách và cơ chế về luật pháp còn nhiều điểm bất cập, đăc biệt là xử lý tài sản đảm bảo nên tốc độ xử lý chậm là khó tránh.

Về phần VAMC, ông Hùng cũng tin tưởng, một khi nền kinh tế phục hồi, doanh nghiệp khởi sắc thì việc xử lý nợ xấu sẽ được đẩy nhanh hơn.

Theo Thùy Liên – Đầu Tư
“Phẫu thuật” nợ xấu
Hải Lý – TBKTSG – 4/9/2014



(TBKTSG) – Quí 4 năm ngoái khi Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) đi vào hoạt động và những khoản nợ đầu tiên được mua, người ta đã hy vọng nhìn thấy “ánh sáng cuối đường hầm” để “phẫu thuật” nợ xấu. Nhiều người cho rằng một cơ chế xử lý nợ đã ra đời, giống như ở các nước trong các cuộc khủng hoảng trước đây, và cơ chế này sẽ mang lại hiệu quả.

Cơ chế hoạt động của một tổ chức như VAMC ở các quốc gia khác thực chất là Nhà nước bỏ tiền ra mua nợ, ôm khoản nợ đó một thời gian, sau đó khi kinh tế phục hồi, thị trường tài chính, bất động sản ấm lên, Nhà nước bán ra, thu tiền về. Những ngân hàng bán nợ “sống lại” là nhờ bán dứt điểm được khoản nợ, có tiền tươi thóc thật để kinh doanh, hồi sinh.

Nhưng VAMC không như vậy. VAMC mua nợ bằng giấy. Giấy đó là trái phiếu đặc biệt, được mang lên giao dịch với Ngân hàng Nhà nước để vay tiền. Bán nợ, cầm giấy, ngân hàng vẫn phải tiếp tục đòi nợ và thêm một công đoạn mới là mỗi năm trích dự phòng rủi ro 20% tổng giá trị tờ giấy cầm ấy.

Hoá ra VAMC, đúng như Ngân hàng Nhà nước (NHNN) định nghĩa ngay từ đầu, “không phải đôi đũa thần” vì nó không có tiền. Đã thế cơ chế của nó cũng không đổi mới. Trong cuộc họp báo thường kỳ cuối tháng 8 vừa qua, đại diện VAMC nhấn mạnh công ty đang gặp khó khăn trong việc phát mãi tài sản đảm bảo thông qua đấu giá. VAMC đã tổ chức ba lần đấu giá nhưng đều thất bại.

Chuyện đấu giá thất bại của VAMC là hiển nhiên. Nếu VAMC đấu giá được thì mới đáng ngạc nhiên! Từ hồi nào đến giờ, các ngân hàng bán tài sản đảm bảo qua đấu giá để thu hồi nợ mà có được mấy đâu. Có ngân hàng nay đã chán đấu giá đến tận cổ. Họ mà bán được tài sản đảm bảo, thì hà cớ gì cần đến VAMC nữa?

Bán đấu giá bây giờ trăm người bán, một người mua. Bán không được mới nhờ cậy đến VAMC. VAMC đấu giá theo cách thông thường, sao bán được? Cái tên VAMC không làm cho người mua nhiều hơn, không làm cho giá bán linh hoạt hơn, cũng không làm cho thị trường nợ chuyển động…thất bại là ở đó!

Chung qui lại bản chất câu chuyện là ở sự mất giá của tài sản đảm bảo so với giá trị khoản vay. Khoản vay không bao giờ mấy giá, nó chỉ có giá thêm nhờ lãi mẹ đẻ lãi con, trong khi giá trị tài sản thế chấp đang giảm, nhất là bất động sản. Tất cả mọi đối tượng đều đang chờ thị trường bất động sản tăng lại, thì có vẻ như còn lâu nó mới tăng. Về mặt tâm lý, đáy của thị trường tài sản thường diễn ra ở thời điểm mà người ta không còn nhòm ngó đến nó nữa. Nó lên cũng vậy, nó xuống cũng thế. Sự buông tay, sự chán nản cùng cực xuất hiện, đáy mới đến.

VAMC công bố đến cuối tháng 8-2014 đã mua được tổng cộng 59.000 tỉ đồng nợ xấu. Con số này có thể thấp hơn số nợ xấu phát sinh từ tháng 10-2013 đến nay. VAMC ôm nợ, mà “ôm chùa”, thì làm sao nợ giảm được?

Cái cần hiện nay là cho VAMC một cơ chế thật và một chút tiền mồi, khoảng 3.000 – 5.000 tỉ đồng để giải phẫu nợ. Cơ chế ấy là cho phép VAMC bán đấu giá tài sản theo giá thị trường, bán đến khi có người mua. Thí dụ giá trị khoản vay là 100 tỉ đồng, giá trị tài sản thế chấp khi vay là 150 tỉ đồng. Nay tài sản ấy có thể chỉ còn giá trị tương đương 50 tỉ đồng. Có bán không? Hay đợi đến khi nó được 100 tỉ đồng, bằng giá trị gốc khoản vay mới bán? Vướng mắc này cần được tháo gỡ.

Còn cứ với cách thức tiến hành hiện tại, sẽ chẳng có ngân hàng nào giải thể, phá sản vì nợ, nhưng sẽ nợ đến “chết”.

Ngân hàng ảo tưởng, VAMC ‘nuôi nợ’: Nợ xấu chạy vòng quanh

Theo Nguyên Thảo – Báo Đất Việt – 4/9/2014

Ngân hàng, khách hàng đều ảo tưởng về những khoản nợ xấu vẫn có giá trị và kỳ vọng mức giá cao nếu thị trường phục hồi.

Trong khi đó, VAMC được thành lập nhằm xử lý nợ xấu của các ngân hàng và tổ chức tín dụng thay vì xử lý nợ bằng những dòng tiền thật, mua đứt bán đoạn lại mua nợ bằng giấy, không có những ràng buộc để xử lý nợ xấu… là những lý do được ông Đỗ Thiên Anh Tuấn – Giảng viên Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright cho biết trong cuộc trao đổi với Đất Việt.

Ngân hàng nhà nước sốt sắng xử lý nợ xấu vì…

PV: - Nợ xấu tại hầu hết các ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính tính đến 30/6/2014 đều tăng, có ngân hàng đã vượt mức 5%, thậm chí từ 7-8%. Tính đến tháng 6/2014 nợ xấu toàn hệ thống đã tăng 21,5% so với cuối tháng 5/2014 và tăng 38,2% so với cuối năm 2013. Đặc biệt, nợ xấu theo báo cáo có lúc tăng lúc giảm. Cụ thể, cuối năm 2013 chỉ hơn 3%, đến tháng 4/2014 tại cuộc họp Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng nhà nước báo cáo là 7%, sau đó tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm ngành ngân hàng nợ xấu lại được báo cáo chỉ còn hơn 4%. Trong khi Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s từng công bố nợ xấu của Việt Nam có thể lên đến 15%.

Theo ông, với những con số trên phải nhìn nhận về tình hình nợ xấu như thế nào? Việc nợ xấu tăng giảm và có khả năng sẽ ở mức cao cho thấy điều gì?

Ông Đỗ Thiên Anh Tuấn: - Trong những năm qua kinh tế hầu như không có sự cải biến nào đáng kể nên nguyên nhân biến động mang tính chu kỳ của các con số nợ xấu không phải do tính chu kỳ của nền kinh tế mà theo chu kỳ kế toán.

Nghĩa là, giữa và cuối liên độ tức là cuối tháng 6 và cuối năm, ngân hàng sẽ dùng dự phòng rủi ro tín dụng đã trích lập để xử lý nợ làm cho tỷ nợ xấu giảm xuống tạm thời nhưng sau đó nợ xấu lại tăng lên do theo thời gian lại có thêm nhiều khoản nợ đến hạn không thể trả được và chuyển sang nợ quá hạn hoặc nợ xấu từ nhóm 3, tức nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên.

Có một điểm lưu ý là trong khi số liệu chính thức do các ngân hàng công bố như vậy, nhưng số liệu được đưa ra bởi Thanh tra Ngân hàng nhà nước (NHNN) lại thường cao hơn gấp đôi con số đó. Chẳng hạn như khi nợ xấu bình quân do các ngân hàng công bố là 3% thì Thanh tra NHNN là 6%, ngân hàng công bố 4% thì Thanh tra NHNN công bố là 8%.

Thậm chí, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm Quốc tế như Fitch hay Moody’s đôi khi cũng có đưa ra một vài con số và thường là cao hơn con số chính thức được các ngân hàng báo cáo hay thậm chí là số liệu của Thanh tra NHNN.

Một số người cho rằng sở dĩ có sự chênh lệch này là do các tổ chức căn cứ vào chuẩn mực kế toán quốc tế IAS được cho là khá khắt khe để phân loại nợ thay vì dựa vào chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS).

Liên quan đến vấn đề này tôi nghĩ rằng chỉ đúng một phần, bởi vì để có thể phân loại nợ theo IAS đòi hỏi các tổ chức này phải tiếp cận được sổ sách và hệ thống kế toán của các ngân hàng chứ không thể chỉ là các báo cáo tài chính tổng hợp.

Trong điều kiện thông tin tài chính của rất nhiều tổ chức tín dụng và ngân hàng Việt Nam rất kém minh bạch như hiện nay thì ngay cả việc có được các báo cáo tài chính đi kèm với thuyết minh đã là khó chưa nói đến khả năng tiếp cận hệ thống kế toán gần như là không thể. Vì vậy, tôi không cho là các tổ chức như trên có thể tính được nợ xấu cho toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam dựa trên IAS.

Thực ra, nếu chúng ta chịu khó đọc kỹ các báo cáo của họ thì sẽ thấy rằng các tổ chức này chỉ đưa ra sự phỏng đoán về con số nợ xấu và cách mà họ thường ước đoán là nhân con số báo cáo chính thức lên gấp 3, thậm chí gấp 4 lần. Tuy nhiên con số của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm đưa ra cũng chỉ là ước đoán nhưng thường lại có ấn tượng mạnh với người nghe vì một số lý do.

Chẳng hạn như đây là các tổ chức xếp hạng tín nhiệm tên tuổi của thế giới và một lý do quan trọng nữa là con số nợ xấu khá cao mà họ ước đoán thường nằm trong “dãy đáng ngờ” của nhiều người trong khi các cơ quan Việt Nam luôn tìm cách bác bỏ.

Điều này chúng ta có thể nhận thấy được thông qua sự thiếu nhất quán trong lời nói và hành động của NHNN. Một mặt NHNN vẫn thừa nhận con số nợ xấu chỉ 3-4% mà các ngân hàng báo cáo, mà nếu như phải thừa nhận thì NHNN cũng chưa bao giờ thừa nhận nợ xấu cao quá 10% tổng dư nợ.

Nếu thực sự nợ xấu quá thấp như vậy tại sao NHNN lại phải sốt sắng lập Công ty mua bán nợ VAMC và hối thúc xử lý nợ xấu? Việc NHNN hối thúc ngân hàng phải đẩy nhanh công việc xử lý nợ cho thấy cơ quan này biết được tính nghiêm trọng của vấn đề nợ xấu như thế nào và bản thân NHNN cũng rất sốt ruột với quy mô nợ xấu quá lớn và xem đó là tác nhân quan trọng làm cản trở dòng chảy vốn tín dụng hiện nay.

Nợ xấu chỉ khoảng 3-4% thì không cần phải xử lý nợ xấu, NHNN không cần phải sốt ruột như vậy nhưng NHNN lại rất suốt ruột cho thấy nợ xấu không thể ở mức 3-4% như công bố chính thức. Vậy tại sao NHNN vẫn chấp nhận con số được báo cáo mà không có động thái điều chỉnh để cho ngân hàng phản ánh đúng hơn con số nợ xấu?

Nếu NHNN hiểu rằng bức tranh nợ xấu không chỉ là 3-4% như báo cáo, rõ ràng Thông tư 02 ra đời sẽ phơi bày thực chất hơn thực trạng nợ xấu nhưng NHNN đã ban hành Thông tư 09 sửa đổi Thông tư 02 về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, lùi một số điều khoản trong Thông tư 02, và như vậy chẳng khác gì NHNN đang thực thi chính sách kiểu “con đà điểu”.

PV: - Về việc xử lý nợ xấu, năm 2013 Tổng công ty quản lý tài sản của các Tổ chức tín dụng Việt Nam VAMC đã mua lại khoảng 39.000 tỷ đồng nợ xấu nhưng sang năm 2014 quá trình này chững lại, 6 tháng đầu mới mua được 11.414 tỷ nợ gốc. Trong khi VAMC vẫn mua nợ xấu bằng “giấy” và chưa tìm được đầu ra cho những khoản nợ xấu đã mua. Theo ông đây có phải chỉ là hình thức giảm nợ xấu ảo, thực tế nợ xấu không những giảm mà còn tăng thêm vì nợ xấu dồn về VAMC và VAMC không bán được?

Ông Đỗ Thiên Anh Tuấn: - Từ khi đề án thành lập VAMC được đề xuất trên giấy chúng tôi đã nói mô hình này không giúp xử lý được căn cơ vấn đề nợ xấu vì nó chỉ giống như cái kho cất giữ tạm nợ xấu qua đó giúp ngân hàng làm đẹp sổ sách còn thực ra khoản nợ xấu không hề biến mất. Mô hình VAMC hiện tại có quá nhiều bất cập, nó không tạo động cơ để có thể xử lý nhanh và có hiệu quả nợ xấu.

Một trong số bất cập chủ yếu là bản thân VAMC không có nguồn lực thực để mua đứt bán đoạn nợ xấu. Vốn điều lệ của VAMC chỉ là 500 tỷ đồng, là vốn pháp định nhằm đảm bảo vị trí pháp lý của VAMC, không phải là nguồn lực dùng để mua lại nợ xấu của hệ thống ngân hàng bởi vì nợ xấu được ước tính lên đến hàng trăm ngàn tỷ đồng. Vốn điều lệ của VAMC thậm chí còn thấp hơn vốn tự có của một số công ty quản lý tài sản (AMC) trực thuộc các ngân hàng thương mại.

Tất nhiên bản thân AMC không nhất thiết phải có vốn tự có lớn, thay vào đó công ty này có thể huy động nguồn lực từ bên ngoài chẳng hạn như phát hành trái phiếu, sau đó dùng nguồn lực này để mua lại nợ xấu của ngân hàng, từ đó tìm cách bán lại cho nhà đầu tư thứ cấp.

VAMC cũng có chức năng phát hành trái phiếu nhưng thật lạ là trái phiếu mà VAMC đang phát hành chẳng giống ai. VAMC phát hành trái phiếu để hoán đổi nợ xấu cho ngân hàng dựa theo mệnh giá nợ (nợ gốc trừ phần đã trích lập dự phòng – PV) nhưng lại không trả lãi và cũng không có giá trị đáo hạn.

Chính điều này đã không tạo động cơ để VAMC có thể xử lý nợ một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Thay vào đó mô thức mà VAMC đang sử dụng có thiên hướng “nuôi nợ”. “Nuôi nợ” cũng đang là cách mà nhiều NHTM đang áp dụng. Và nếu như vậy thì có VAMC cũng không khác gì không có VAMC!

Trong trường hợp này rõ ràng các ngân hàng cũng không cần phải nhờ đến vai trò “bảo mẫu” của VAMC. Hơn nữa, sau 5 năm nếu VAMC không xử lý được khoản nợ thì cũng không sao vì cuối cùng nó sẽ được chuyển trả về cho ngân hàng như ban đầu.

Trong khi đó, kinh nghiệm từ các mô hình công ty mua bán nợ của một số nước như Hàn Quốc hay Malaysia có rất nhiều hàm ý rất quan trọng đối với Việt Nam mà chúng ta có thể học hỏi.

Chẳng hạn, mô hình KAMCO của Hàn Quốc đã mua nợ theo giá trị thị trường đồng thời có nguồn lực thực để xử lý nợ nhưng VAMC lại mua theo mệnh giá và không có nguồn lực thực. KAMCO được thúc ép để xử lý nợ nhanh không để dây dưa, khoản nợ KAMCO mua sẽ ưu tiên để xử lý trước thay vì “nuôi nợ” như VAMC.

Về tạo lập thị trường mua bán nợ, KAMCO cũng rất thành công khi tạo ra được thị trường mua bán nợ cho khu vực doanh nghiệp tư nhân. Năm 1998 khi KAMCO ra đời, vai trò của KAMCO chiếm tới 97-98% trên thị trường mua bán nợ nhưng chỉ trong 2 năm tiếp theo vai trò của KAMCO đã giảm xuống còn trên dưới 50% và đến 2001-2002, KAMCO chỉ tham gia chưa tới 5% giao dịch trên thị trường mua bán nợ và 95% còn lại là khu vực tư nhân tham gia. Với mô hình này chỉ trong vòng 4-5 năm đã giúp xử lý gần hết nợ xấu của Hàn Quốc.

Một vấn đề quan trọng nữa là trong quá trình xử lý nợ chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn do các rào cản pháp lý vốn chưa có tiền lệ. Chính vì vậy nếu như các công ty xử lý nợ không được trao một hoặc một số đặc quyền nào đó thì cũng sẽ rất khó để xử lý nợ thành công.

Về phương diện này thì mô hình Danaharta của Malaysia đáng để Việt Nam học tập. Hiện một trong những trở ngại rất lớn trong việc xử lý các tài sản đảm bảo cho các khoản nợ tại Việt Nam đó chính là những vướng mắc về mặt pháp lý khiến cho các ngân hàng với tư cách là chủ nợ không thể thanh lý tài sản để thu nợ.

Các rào cản này một khi vẫn chưa được tháo gỡ và VAMC vẫn chưa được mạnh dạn trao một đặc quyền nào để xử lý thì việc có chuyển nợ lại cho VAMC thì cũng không giải quyết được vấn đề gì. Thực ra, vấn đề xử lý tài sản đảm bảo ở đây không chỉ liên quan đến vấn đề pháp lý như đã nói mà nó còn liên quan đến nhiều vấn đề khác phức tạp hơn nhiều.

Ảo tưởng giá trị tài sản

PV: - Việc thanh lý tài sản đảm bảo, vướng mắc lớn nhất trong trường hợp Việt Nam nằm ở điều gì, phải chăng do việc Việt Nam không bán với giá thị trường mà mong muốn bán với giá cao và không ai chịu trách nhiệm, thưa ông?

Ông Đỗ Thiên Anh Tuấn: - Chúng ta luôn có ảo tưởng về giá trị tài sản. Trước đây mua tài sản với giá 10 đồng đến khi chúng ta bán hoặc buộc phải bán vẫn nghĩ có thể bán được hơn 10 đồng vì cố tình bỏ qua điều kiện thị trường hiện tại và mơ về ảo tưởng mức giá trong tương lai khi thị trường hồi phục.

Đứng ở góc độ ngân hàng, trước đây khi cho vay, ngân hàng nhận thế chấp tài sản là 10 đồng thì nay, khi nền kinh tế suy giảm, thị trường tài sản đi xuống thì giá tài sản cũng phải giảm theo, không thể đòi hỏi vẫn là 10 đồng như thời kỳ bùng nổ trước đây, càng không thể nói rằng đợi thị trường hồi phục sau 5-7 năm nữa thì sẽ bán được với giá hơn 10 đồng. Chính vì sự ảo tưởng như vậy mà các ngân hàng vẫn tiếp tục nắm giữ tài sản, không muốn xử lý để “chờ thời”.

Một lý do nữa nằm ở sự sai lầm trong việc định giá tài sản thế chấp trước đây của các ngân hàng. Trong điều kiện thị trường tài sản, đặc biệt là bất động sản, bị bong bóng giá, các ngân hàng đã “trót” định giá quá cao các tài sản đảm bảo lên gấp 2 thậm chí gấp 3 lần.

Việc định giá như vậy là sai hoàn toàn so với các nguyên tắc thẩm định giá trị tài sản mà Bộ Tài chính đã ban hành cũng như không phù hợp với các chuẩn mực thẩm định giá quốc tế được đề xuất bởi Ủy ban Tiêu chuẩn Thẩm định giá Quốc tế (IVSC).

Trong những trường hợp này không loại trừ khả năng cố định nâng khống giá trị tài sản đảm bảo của nhân viên thẩm định mà nguyên nhân có thể là do đạo đức nghề nghiệp nhưng một nguyên nhân nữa là do sự “ảnh hưởng” của các ông chủ đứng sau ngân hàng.

Chính vì vậy, một khi bong bóng giá tài sản nổ, tài sản thế chấp không đủ giá trị để đảm bảo cho khoản nợ hiện tại nên thường ngân hàng sẽ không có nhiều động cơ bán nhanh để “cắt lỗ” mà tâm lý là vẫn tiếp tục “nuôi nợ” nhằm “chờ thời”. Chính sách “nuôi nợ” không phải lúc nào cũng xấu nhưng quan trọng là phải phù hợp với bối cảnh và động cơ dẫn dắt. Trong điều kiện hiện nay, “nuôi nợ” là một chính sách quá rủi ro và tốn kém mà tôi nghĩ chúng ta không nên theo đuổi và khuyến khích người khác theo đuổi.

Góc độ thứ hai là bản thân người thế chấp tài sản cũng có ảo tưởng tương tự. Trong khi thị trường dựa theo tình hình thị trường tài sản hiện tại cũng như các yếu tố liên quan, những người tham gia chỉ trả mức giá 6 đồng thì con nợ vẫn hi vọng 5-7 năm sau khi thị trường tốt lên thì sẽ có mức giá cao hơn mà nếu không thì kiếm được thêm đồng nào thì hay đồng đó. Chính điều này cũng dẫn đến tình trạng không ai có động cơ xử lý thanh lý tài sản cả.

Nhưng cũng có những loại tài sản mà các ngân hàng cũng muốn bán để xử lý nhanh khoản nợ nhưng lại gặp phải những rào cản pháp lý. Hiện có rất nhiều quy định liên quan đến xử lý tài sản đảm bảo nợ vay nhưng rất nhiều điều khoản trong các quy định vẫn còn nhiều nội dung mập mờ, không tương thích, thiếu nhất quán đã khiến cho việc xử lý nợ của ngân hàng trên thực tế là không hề dễ dàng.

Bên cạnh đó, ngoài hệ thống luật pháp của Việt Nam không hiệu quả, thời gian để thực hiện quá trình tố tụng tại tòa liên quan đến tranh chấp tài sản cũng rất lâu nên việc đưa nhau ra tòa cũng không mang lại hiệu quả và các ngân hàng cũng không hề muốn điều này.

Ngân hàng Thế giới (WB) trong báo cáo về Môi trường kinh doanh (Doing Business) cũng cho thấy thời gian xử lý phá sản cũng như thanh lý tài sản ở Việt Nam mất bình quân 5 năm, giá trị thu hồi được cũng cực kỳ thấp khoảng 16%, trong khi Trung Quốc tương ứng là 1,7 năm và 35%, Malaysia là 1,5 năm và 50%, Thái Lan là 2,7 năm và 42%, Hàn Quốc là 1,5 năm và 82%, Nhật Bản là 0,6 năm và 93%…

Với thực trạng này rõ ràng không ai có động cơ đem nhau ra tòa kiện tụng, ngân hàng cũng phải làm nhiệm vụ kinh doanh, không có nhân viên nào được trả lương để chuyên theo đuổi vụ kiện đến 5-10 năm mà cũng chưa chắc sẽ đi đến đâu. Chính phủ gần như vẫn chưa có chiến lược hành động để cải thiện thứ hạng về giải quyết phá sản mà Việt Nam luôn là một trong số ít nước đội sổ từ khi báo cáo Doing Business của WB ra đời.

PV: - Có ý kiến cho rằng việc bán nợ xấu phải được bán như bán hàng thanh lý không thể đòi hỏi mức giá cao như mong muốn, ông có đồng tình với quan điểm này không? Nếu thực hiện bán nợ xấu như bán hàng thanh lý thì trên thực tế sẽ diễn ra điều gì, có nhiều doanh nghiệp bị phá sản không, thưa ông?

Ông Đỗ Thiên Anh Tuấn: - Nguyên tắc là khi khách hàng vay không trả được nợ, ngân hàng với tư cách là chủ nợ cần được trao quyền đầy đủ để có thể xử lý nhanh chóng tài sản đảm bảo để thu hồi nợ mà không bị trở ngại nào.

Có một số người cho rằng trong điều kiện hiện nay sở dĩ ngân hàng không thể xử lý được tài sản đảm bảo là do thị trường không thuận lợi nên không bán được tài sản. Tôi không hiểu nổi thế nào gọi là không thuận lợi nhưng tôi hiểu rằng không bao giờ có chuyện tài sản không bán được.

Vấn đề là tài sản đó được bán với mức giá nào, không thể đồng nhất nó với không bán được trong một nền kinh tế thị trường. Chỉ có điều là khi thị trường đồng ý trả giá cho tài sản là 50 đồng trong khi người bán cứ muốn bán được với mức giá 100 đồng thì sẽ không ai mua.

Trong trường hợp này không ai có thể chấp nhận lý lẽ rằng trong tương lai tài sản của tôi sẽ đáng giá 100 đồng thay vì bán bây giờ chỉ 50 đồng. Nếu nói như vậy thì cách tốt nhất là nên kiếm tiền đâu đó để trả nợ cho ngân hàng và giữ lại tài sản của mình và chờ đến khi bán được 100 đồng.

Nếu không kiếm được tiền ở đâu khác thì ngân hàng phải được trao quyền bán tài sản để thu nợ. Tất nhiên việc bán tài sản của ngân hàng phải dựa trên nguyên tắc bán với nỗ lực tốt đa, trên tinh thần công khai, minh bạch, không phải bán nhanh, bán gấp với giá trị “vừa đủ” để thu nợ thay vì vẫn có thể bán được với giá cao hơn mà phần chênh lệch đó là thuộc về khách hàng thế chấp.

PV: - Vừa qua, NHNN có đề nghị xin tiền cấp cho VAMC mua nợ, về bản chất là lấy tiền ngân sách ra mua những khoản tiền mà ngân sách đã cấp và đã bị tổn thất thành nợ xấu. Ông có bình luận gì về điều này?

Ông Đỗ Thiên Anh Tuấn: - Cũng cần phân biệt 2 dòng tiền là từ ngân sách và NHNN. Tiền từ ngân sách, Bộ Tài chính trình Chính phủ rồi Chính phủ sẽ trình Quốc hội quyết theo quy định của Luật Ngân sách 2002.

Tuy nhiên, tôi không tin ngân sách còn đủ tiền để làm việc đó vì nợ xấu hiện nay là mấy trăm ngàn tỷ đồng trong khi ngân sách không có khoản tích lũy nào để có thể chuyển cho VAMC mua nợ cả. Chưa kể Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng nợ công quá cao, và năm nay cũng không đủ tiền trả nợ buộc phải đi vay mới để trả các khoản nợ cũ.

Tuy nhiên, ở đây Chính phủ vẫn có thể bán đi 1 số doanh nghiệp nhà nước và dùng nguồn tiền đó để tài trợ cho VAMC. Theo Đề án tái cấu trúc DNNN ban hành theo Quyết định 929, Chính phủ đang đề ra lộ trình hết năm 2015 sẽ cổ phần hóa 432 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cũng như thoái vốn tiếp ở các DNNN đã cổ phần hóa một phần, trong đó có một số DNNN rất lớn như Vietnam Airlines, Mobifone, PV Gas, Sabeco …

Tuy nhiên việc cổ phần hóa là một chuyện, lấy tiền được về ngân sách là một chuyện khác, rồi bơm trả ra VAMC cũng đòi hỏi phải thiết kế một cơ chế mới phù hợp. Trên thực tế như chúng ta biết cổ phần hóa xong thì các cơ quan giằng xé giữ lại chỗ này, giữ lại cho kia một ít mà cuối cùng không thấy “chiếc bánh ngân sách” có thêm phần nào, chưa kể có đến lượt VAMC không.

Ngoài ra nếu dòng tiền là từ NHNN thì cũng không ổn. Dòng tiền từ NHNN cũng có nghĩa là cơ quan này phải in thêm tiền mà điều này sẽ vi phạm vào nguyên tắc phát hành tiền, làm tăng cung tiền ra nền kinh tế và dẫn đến một số áp lực lên các cân đối vĩ mô cũng như việc theo đuổi mục tiêu ổn định vĩ mô mà ta đang theo đuổi mấy năm nay.

Thực ra, theo cơ chế trái phiếu VAMC hiện nay thì các ngân hàng vẫn có thể chiết khấu các trái phiếu đó tại NHNN để có tiền tái đầu tư, song do nền kinh tế vẫn tắc, tín dụng không tăng trưởng được, thanh khoản lại cũng đang dư thừa nên các ngân hàng cũng không mặn mà tái chiết khấu.

Vấn đề mấu chốt, như tôi đã nói, là cần phải khơi thông được các khoản nợ xấu trên tinh thần phải bán đi các tài sản đảm bảo, xử lý việc phá sản doanh nghiệp… để thúc đẩy dòng tiền từ con nợ.

Nếu không thì phải khuyến khích một dòng tiền thứ cấp khác chảy vào thị trường mua bán nợ. Ý tôi muốn nói là nguồn tiền từ các nhà đầu tư nước ngoài. Rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài muốn tham gia vào thị trường mua bán nợ Việt Nam nhưng do nhiều rào cản pháp lý khiến dòng tiền này không chảy vào được mà cuối cùng chúng ta cứ loay hoay mãi với dòng tiền từ khu vực trong nước.

Trong khi tình trạng ngân sách không có tiền, tư nhân trong nước người có tiền thật cũng không dám tham gia vì quá rủi ro chỉ, có kẻ không có tiền phải đi vay mượn mới có động cơ tham gia vì nếu được thì “ăn cả” mà nếu không thì cũng không mất gì.

Với cơ chế xử lý nợ hiện nay chẳng khác nào chúng ta đang lôi kéo những kẻ thích đánh cược tham gia thay vì khuyến khích người có tiền thực sự. Rủi ro tất nhiên là một đặc tính cố hữu của bất kỳ một giao dịch nào nói chung hay một giao dịch mua bán nợ nói riêng.

Trong một thị trường hiệu quả sẽ có cơ chế để người nào có thể chấp nhận rủi ro tốt hơn sẽ đón nhận rủi ro và người nào không thể chấp nhận rủi ro thì cũng có thể từ bỏ nó. Vấn đề ở đây không phải là rủi ro sẽ được bù đắp mà là rủi ro chỉ nên được bù đắp cho người có thể chấp nhận rủi ro chứ không phải cho kẻ dám “đánh cược” với rủi ro. Cơ chế xử lý nợ xấu nói riêng, mô hình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng nói chung của chúng ta đang làm điều hoàn toàn ngược lại.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Nguyên Thảo (thực hiện)

September 5, 2014

Cho phá sản ngân hàng, thì sao?


iệc đóng cửa các ngân hàng yếu kém thời gian qua vẫn vấp phải sự phản đối...

Cơ chế phá sản và cho phá sản ngân hàng yếu kém tại Việt Nam vẫn khó triển khai, do có những quan ngại và trở ngại liên quan.PHƯƠNG THÚY
Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8 vừa qua, một lần nữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh đến việc thúc đẩy tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, mà nếu cần thiết sẽ cho phá sản ngân hàng yếu kém.

Trong suốt quá trình tái cơ cấu từ cuối năm 2011 đến nay, một loạt ngân hàng yếu kém được xử lý nhưng không và chưa có bất kỳ trường hợp nào bị phá sản. Nhưng điều đó không có nghĩa là sẽ không có ở Việt Nam.

Tại Luật Phá sản 2014 được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2014 đã có điểm mới, chính thức luật hóa các quy định về phá sản tổ chức tín dụng. Quan điểm nếu cần thiết sẽ cho phá sản ngân hàng yếu kém cũng đã được người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh nói trên.

Tuy nhiên, cơ chế phá sản và cho phá sản ngân hàng yếu kém tại Việt Nam vẫn khó triển khai, do có những quan ngại và trở ngại liên quan.

Báo cáo chuyên biệt về tình hình hệ thống tài chính Việt Nam do các chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) công bố ngày 29/8 vừa qua cũng chỉ ra một lý do căn bản cho vấn đề trên: “Việc đóng cửa và thanh lý các ngân hàng mất khả năng thanh toán vấp phải sự phản đối được cho là nhằm tránh tình trạng rút tiền hàng loạt”.

Thực tế từ một số vụ việc xẩy ra trước đây cho thấy, rủi ro không chỉ gói gọn ở một ngân hàng cụ thể, mà có thể tạo hiệu ứng dây chuyền bất lợi cho cả hệ thống. Điều này cũng giải thích vì sao giải pháp mà Ngân hàng Nhà nước ưu tiên khi xử lý là tiến hành sáp nhập, hợp nhất những tổ chức tín dụng yếu kém đó thay vì cho phá sản. Một mặt, biện pháp này hạn chế hiệu ứng rút tiền hàng loạt, mặt khác là do ngân sách để xử lý là eo hẹp.

Nhưng trong giả thiết phải cho phá sản ngân hàng, điều gì sẽ xẩy ra? Khi mất khả năng thanh toán và ngân hàng đó phải phá sản, lợi ích đầu tiên cần được bảo vệ là người gửi tiền.

Sau khi hoàn trả các khoản vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác, lợi ích của người gửi tiền được xem xét ở những tài sản còn lại của tổ chức tín dụng bị phá sản. Và một cơ chế hỗ trợ quan trọng là Bảo hiểm Tiền gửi (DIV).

Thế nhưng, tại báo cáo trên của WB và IMF, nguồn lực và thực tế hoạt động của DIV được đánh giá ở những hạn chế đáng chú ý.

Theo đánh giá của chuyên gia từ hai tổ chức quốc tế trên, số lượng cán bộ của cơ quan bảo hiểm tiền gửi này tại Việt Nam là rất lớn nhưng không được sử dụng hiệu quả; và cơ quan này sử dụng hầu hết các nguồn lực của mình để thực hiện việc giám sát sự tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Cũng theo báo cáo trên, DIV chưa bao giờ được sử dụng để xử lý nợ xấu hoặc các ngân hàng gặp khó khăn, các ngân hàng có tình hình tài chính yếu kém. Một thực tế là tình hình tài chính của tổ chức bảo hiểm tiền gửi này cũng không đủ để hỗ trợ thanh lý hai tổ chức tín dụng có quy mô ở mức trung bình. Hiện nay, số dư quỹ của DIV chỉ chiếm khoảng 0,8% tổng số dư tiền gửi toàn hệ thống.

“Đồng thời, có những rủi ro nghiêm trọng trong cách thức đầu tư vốn của DIV. Cơ quan này hiện đang đầu tư nhiều tại các tổ chức tín dụng thành viên. Trường hợp bất kỳ một trong số các tổ chức này gặp vấn đề về thanh khoản hay khủng hoảng khả năng thanh toán thì sẽ gây rủi ro cho các khoản đầu tư của DIV”, báo cáo từ WB và IMF khuyến cáo.

Tuy nhiên, Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 và có hiệu lực từ 2013 cho phép DIV đầu tư vào trái phiếu Chính phủ, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và gửi tiền tại Ngân hàng Nhà nước, nhưng báo cáo trên của WB và IMF không đánh giá mức độ chính sách đầu tư đã có thay đổi của cơ quan bảo hiểm tiền gửi này.

Như trên, tình huống cho phá sản ngân hàng tại Việt Nam vẫn khó để xẩy ra. Ngân hàng Nhà nước đã và vẫn đang sử dụng biện pháp chính để xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém bằng cho sáp nhập, hợp nhất, biện pháp cuối cùng là chính Ngân hàng Nhà nước vào cuộc mua lại cổ phần để trực tiếp chấn chỉnh (với công cụ là các ngân hàng thương mại nhà nước).

Các chuyên gia của WB và IMF cho rằng, mặc dù giải pháp cho sáp nhập, hợp nhất như vậy đã giải quyết được những khó khăn về thanh khoản trong ngắn hạn nhưng có vẻ nó chưa giải quyết được những khó khăn cơ bản về tài sản, thanh khoản, vốn và quản trị điều hành.

Vậy nên, một tình huống cho phá sản có trật tự và kiểm soát nếu có trong tương lai hẳn cũng là cần thiết, như một sự xóa bỏ hẳn những bất cập và yếu kém (dĩ nhiên đi cùng là sự trả giá và phải trả giá), thay vì chỉ với giải pháp ghép vào một thực thể khác bằng sáp nhập, hợp nhất để xử lý.

August 31, 2014

Vốn điều lệ 37 Ngân hàng!

Trong số 37 ngân hàng vẫn có 13 ngân hàng vốn điều lệ dưới 4.000 tỷ, trong đó 6 ngân hàng vốn tròn 3.000 tỷ. Vietinbank có vốn điều lệ cao nhất với hơn 37.200 tỷ.

Ngân hàng Nhà nước cho biết, đến đầu tháng 7/2014, tổng vốn điều lệ của các tổ chức tín dụng đạt hơn 428,7 nghìn tỷ đồng, tăng 2,21% so với cuối 2013. Trong đó nhóm các ngân hàng thương mại Nhà nước có vốn điều lệ 130.634 tỷ đồng, ngân hàng TMCP là 190.314 tỷ đồng, tổng cộng chiếm 75% vốn của toàn hệ thống.

Số liệu của các ngân hàng cập nhật cùng thời điểm thì cho thấy Vietinbank hiện là ngân hàng dẫn đầu hệ thống về vốn điều lệ với hơn 37.200 tỷ đồng, cao hơn trên dưới chục nghìn tỷ so với 3 ngân hàng ở vị trí tiếp theo là Agribank, BIDV và Vietcombank.

Trong số 37 ngân hàng vẫn có 12 ngân hàng vốn điều lệ dưới 4.000 tỷ, trong đó có 6 ngân hàng vốn tròn 3.000 tỷ - tối thiểu theo quy định của NHN – đó là BaoVietBank, KienLongBank, NamABank, PGBank, VietcapitalBank và VietBank.

Trong năm nay, nhiều ngân hàng đã lên kế hoạch tăng vốn như BaoVietBank có kế hoạch tăng vốn lên 5.200 tỷ; VPBank muốn tăng tiếp lên 7.325 tỷ; NamABank và SaiGonBank muốn tăng vốn lên 4.000 tỷ đồng; DongABank kế hoạch tăng lên 6.000 tỷ; LienVietPostBank muốn lên 6.647 tỷ đồng.

Nhóm các ngân hàng lớn hơn cũng có kế hoạch tăng vốn như MB lên 15.500 tỷ; Sacombank lên gần 13.500 tỷ; SCB lên gần 14.300 tỷ…

Dưới đây là tình hình vốn điều lệ của các ngân hàng cập nhật tại thời điểm đầu tháng 7 (tổng hợp từ báo cáo tài chính, các số liệu ngân hàng công bố), trong đó đồ thị có đỏ là ngân hàng sau sáp nhập bao gồm SHB(SHB+Habubank), SCB (Ficombank+SCB+TinNghiaBank), PVcomBank (WesternBank+PVFC), HDBank (HDBank+DaiABank). Đơn vị tính sử dụng là nghìn tỷ đồng.


Xếp hạng tổng tài sản các Ngân hàng!

Tổng tài sản của MDBank hiện đang nhỏ nhất hệ thống khi đạt chưa đầy 7 nghìn tỷ đồng. Cùng với SaiGonBank thì đây là 2 ngân hàng duy nhất có tổng tài sản dưới 20 nghìn tỷ đồng.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, đến thời điểm 30/6, tổng tài sản của toàn hệ thống đạt hơn 5,96 triệu tỷ đồng, tăng gần 206 nghìn tỷ tương đương 3,74% so với cuối năm 2013. Trong đó, tổng tài sản của các ngân hàng thương mại cổ phần và ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước là hơn 5,16 triệu tỷ đồng.

Còn theo báo cáo tài chính của các ngân hàng, tại thời điểm 30/6, tổng tài sản của Vietinbank đang dẫn đầu hệ thống với hơn 597 nghìn tỷ đồng, theo sau là BIDV với 579 nghìn tỷ và Vietcombank hơn 504 nghìn tỷ đồng.

3 ông lớn ngân hàng này cũng bỏ khá xa tài sản của các ngân hàng cổ phần nhóm sau với quy mô gấp hơn 2 lần.

Tổng tài sản của MDBank hiện đang nhỏ nhất hệ thống khi đạt chưa đầy 7 nghìn tỷ đồng. Cùng với SaiGonBank thì đây là 2 ngân hàng duy nhất có tổng tài sản dưới 20 nghìn tỷ đồng.

Dưới đây là dữ liệu về tổng tài sản của các ngân hàng tại thời điểm đầu tháng 7/2014 (ĐVT nghìn tỷ đồng). Trong đó đồ thị có màu xanh lá cây biểu hiện ngân hàng đã niêm yết trên sàn chứng khoán, màu vàng là các ngân hàng đã và đang tái cơ cấu bằng sáp nhập.

Còn một số ngân hàng chưa được cập nhật ở đây do số liệu quá cũ (từ 2010) như là GPBank, VietBank, BaoVietBank...


August 29, 2014

Tín dụng tăng thấp, lãi thuần ngân hàng vẫn cao

Chỉ tiêu tín dụng nguy cơ không đạt, thu nhập lãi thuần của nhiều ngân hàng vẫn tăng trưởng tốt dù họ lý giải chênh lệch lãi suất huy động và cho vay hiện thấp kỷ lục.

Báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm cho thấy chỉ số lãi thuần của phần lớn ngân hàng có xu hướng tăng cao so với cùng kỳ năm ngoái. Trong nhóm ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước chi phối, BIDV dẫn đầu về mức độ gia tăng thu nhập lãi thuần, đạt hơn 7.600 tỷ đồng lãi thuần tính đến cuối tháng 6, tăng gần 16% so với cùng kỳ. Hai ông lớn còn lại là Vietcombank và Vietinbank cũng có mức tăng lần lượt 8,3% và 6,4%.

Với khối ngân hàng cổ phần, giá trị tuyệt đối về thu nhập lãi thuần nhỏ nhưng tỷ lệ gia tăng so với năm trước khá cao. Chẳng hạn TPBank, thu nhập lãi thuần 6 tháng đầu năm đạt hơn 450 tỷ đồng, tăng tới 114,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Ba nhà băng khác là ABBank, SHB và Techcombank cũng có mức tăng thu nhập lãi thuần lần lượt 17,6%, 16,6% và 12,9%. Ngoài ra, nhiều nhà băng khác cũng có sự gia tăng thu nhập lãi thuần ở mức tương đối.


Bảng dữ liệu về tỷ lệ lãi cận biên và thu nhập thuần của các ngân hàng.


Thu nhập lãi thuần là khoản chênh lệch giữa chi phí trả lãi và thu nhập từ lãi. Vì vậy lãi thuần tăng cao trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng ở mức ì ạch khiến nhiều người chú ý. 7 tháng đầu năm, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống chỉ đạt 3,68%, chưa bằng một phần ba chỉ tiêu cả năm. Ngân hàng Nhà nước lý giải tín dụng tăng chậm do sức hấp thụ vốn của nền kinh tế còn thấp, sản xuất kinh doanh chưa khởi sắc nên cầu về vốn cũng yếu.

Phó chủ tịch Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienvietPostbank) Nguyễn Đức Hưởng cho rằng, lãi thuần của một số ngân hàng được tính tổng hợp từ nhiều nguồn chứ không phải chỉ riêng phần cho vay trong 6 tháng qua. "Chẳng hạn như những khoản nợ lãi của thời gian trước đây tồn đọng và giờ ngân hàng mới thu được, cũng là lý do giúp thu nhập lãi thuần tăng", ông nói.

Thêm vào đó, ông Hưởng nhận định, năm ngoái nhiều ngân hàng thậm chí chấp nhận biên lợi nhuận âm để cho vay khách hàng tốt, còn giờ thì có cao hơn chút đỉnh nên thu nhập lãi thuần 6 tháng đầu năm có phần nhỉnh hơn cùng kỳ năm ngoái là điều dễ hiểu.

Ngoài ra, theo lý giải của lãnh đạo cấp cao của một ngân hàng cổ phần, tỷ trọng chứng khoán đầu tư (phần lớn là trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc) đều tăng ở hầu hết các ngân hàng, cũng góp một phần vào bức tranh tăng thu nhập lãi thuần. Chẳng hạn như BIDV, 6 tháng đầu năm, ngân hàng này tăng đầu tư vào cả trái phiếu chính phủ và doanh nghiệp (tăng 27%, chiếm 16% tổng tài sản sinh lãi, tăng so với mức tỷ trọng tương đương năm 2013 là 14%).

"Tỷ trọng chứng khoán đầu tư cho phần trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc tại ngân hàng tôi cũng tăng lần lượt là 25% và 30% so với cùng kỳ và mang về khoản thu nhập lãi tương đối lớn", ông nói.

Một số người lại nhìn nhận kết quả khả quan về thu nhập lãi thuần cho thấy chênh lệch giữa lãi suất huy động và cho vay ở mức cao. Một chuyên gia phân tích, thời gian qua lãi suất huy động liên tục giảm, cộng với tài khoản tiền gửi thanh toán và trên thẻ ATM của khách hàng với lãi suất không kỳ hạn... giúp giá vốn huy động bình quân của các ngân hàng thấp, tầm hơn 6% nhưng các nhà băng vẫn cho vay cao 10-11% một năm.

"Như vậy, chênh lệch đầu ra - đầu vào của ngân hàng khá cao, trên 4%, trong khi năm ngoái lãi biên này tầm 3-3,5%. Điều này lý giải vì sao từ đầu năm đến nay tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng rất chậm (3,52%), nhưng ngân hàng vẫn thu lợi nhuận từ tín dụng cao", ông bình luận.


Tỷ lệ lãi cận biên của nhiều ngân hàng đang có xu hướng giảm, cho thấy việc quản lý tài sản sinh lời chưa đạt hiệu suất cao. Ảnh: Anh Quân


Tuy nhiên, báo cáo tài chính của các ngân hàng 6 tháng qua cho thấy thước đo sinh lời thông qua hệ số NIM (tỷ lệ lãi cận biên) có xu hướng giảm đáng kể. NIM được xác định bằng tổng doanh thu từ lãi trừ tổng chi phí trả lãi (thu nhập lãi thuần) trên tổng tài sản có sinh lời bình quân. NIM giảm chứng tỏ rằng mức thu nhập lãi thuần của ngân hàng tuy có tăng lên nhưng vẫn chưa thực sự tương xứng với sự gia tăng của nguồn tài sản có sinh lời.

Hiện nay, trong số các ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính quý II năm 2014, Sacombank có tỷ lệ NIM 6 tháng đầu năm cao nhất, với 2,33%, tuy nhiên, so với cùng kỳ thì lại giảm nhẹ 0,23%. Hay như TPBank, mặc dù thu nhập lãi thuần tăng vọt nhưng tỷ lệ lãi cận biên lại giảm 0,43%.

Ngân hàng Quốc Dân - NCB giảm NIM mạnh nhất, từ 1,56% xuống còn 1,08% do thu nhập lãi thuần không tăng bao nhiêu trong khi tài sản có khả năng sinh lời tăng đột biến.

Tiến sĩ Lê Đạt Chí, Trưởng bộ môn Đầu tư Tài chính, Trường Đại học Kinh tế TP HCM cho rằng, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên nói trên còn chưa phản ánh hết các chi phí hoạt động (trả lương nhân viên, khấu hao tài sản cố định…) cũng như chi phí dự phòng rủi ro của các ngân hàng.

Do đó, theo ông Chí, nhìn vào những con số báo cáo thấy thu nhập lãi thuần tăng so với cùng kỳ năm ngoái thì nghĩ rằng ngân hàng đang "ăn lãi dày" nhưng thực tế chưa hẳn vậy.

Ông Chí lấy ví dụ, trên danh nghĩa, lãi suất cho vay dao động 11% mỗi năm trừ đi lãi suất huy động phổ biến 7%, thì biên lợi nhuận của các ngân hàng là 4%. Với mức này có thể cho ra con số thu nhập lãi thuần khá cao. Tuy nhiên, biên lợi nhuận này không phải là chênh lệch lãi suất mà ngân hàng được hưởng toàn bộ vì nó còn bao gồm rất nhiều chi phí khác.

Thực tế, lãi cận biên tạo nên lợi nhuận ở nhiều ngân hàng chỉ duy trì được mức 1-2%. Ông phân tích, khi nhận về 4% chênh lệch lãi, ngân hàng phải có dự trữ bắt buộc với các khoản tiền gửi. Tiếp theo là dự phòng thanh khoản, các phần chi phí khác bao gồm trả cho bảo hiểm tiền gửi. Cộng tất cả lại khoảng 2%. Cộng thêm một số chi phí khác như trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản nợ xấu tiềm tàng khoảng 1% nữa là lên 3%. Như vậy, lãi cận biên thực tế của ngân hàng chỉ còn lại tầm 1%, ông phân tích.

"Chính vì vậy, nhìn vào kết quả kinh doanh của các ngân hàng 6 tháng đầu năm, thu nhập lãi thuần tăng nhưng thực tế lợi nhuận lại thấp là vậy", ông Chí nói.

Lãnh đạo cấp cao của một ngân hàng phía Nam cũng bộc bạch, với bối cảnh kinh tế ảm đạm, nợ xấu vẫn đang có dấu hiệu gia tăng thì trong hoạt động tín dụng, chênh lệch lãi suất đầu vào đầu ra phải từ 4% trở lên mới đủ trích lập dự phòng rủi ro và kỳ vọng thu lợi nhuận.

Ông cũng tỏ ra lo ngại khi nhìn vào tỷ lệ NIM của nhiều ngân hàng đang có xu hướng thấp và bị thu hẹp, cho thấy lợi nhuận ngân hàng đang bị teo tóp. "Với tình hình hiện nay, ngân hàng tôi rất khó tránh được tình trạng điều chỉnh chỉ tiêu lợi nhuận vào quý cuối năm", ông nói.

Với thực tế trên, một thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ Quốc gia cho rằng, vấn đề lớn hiện nay chính là bài toán quản lý, kiểm soát tài sản có sinh lời của ngân hàng chưa hiệu quả, có thể do nhiều nguyên nhân. Về mặt chủ quan là do việc cho vay dễ dãi trước đó dẫn đến nợ xấu tiềm ẩn lớn; còn về khách quan, kinh tế vĩ mô bất ổn, thị trường bất động sản đóng băng... khiến doanh nghiệp khó khăn, mất khả năng trả nợ.

Chính vì nợ xấu diễn biến phức tạp, buộc nhà băng phải tăng chi phí trích lập dự phòng và các chi phí quản lý khác. Để bù đắp cho các khoản chi phí này, ngân hàng không còn cách nào khác là vẫn duy trì chênh chệch lãi suất huy động và cho vay ở mức cao. Việc này khiến các ngân hàng chưa thể mạnh tay giảm lãi suất cho vay trong thời gian qua. Chỉ trừ vài doanh nghiệp tốt được vay lãi suất 7-8%, còn lại phần lớn khách hàng đều phải vay với mức 10%-12% một năm.

Theo chuyên gia này, trong thời gian tới, nếu các nhà băng tiết giảm được chi phí hoạt động, xử lý tốt nợ xấu và giảm trích lập dự phòng rủi ro, thì khả năng co hẹp thêm chênh lệch giữa đầu vào - đầu ra là có thể.

Hơn nữa, hiện chỉ số CPI tháng 8 vừa được công bố với mức tăng 0,22% so với tháng trước. Tính chung 8 tháng đầu năm 2014, CPI cả nước chỉ tăng 1,83%, trong khi lạm phát theo năm chỉ là 4,31%. Lãi suất huy động đã được các ngân hàng rậm rịch điều chỉnh giảm mấy tuần qua. "Với những điều kiện này, ngân hàng sẽ có room giảm tiếp lãi suất cho vay, hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cho nền kinh tế", ông kết luận.

NIM_Bank


So với các quốc gia khác, NIM của ngân hàng Việt Nam luôn cao hơn, cho thấy quyền lực của ngân hàng ở Việt Nam rất lớn.

Ai cũng cần ngân hàng và ai cũng quan tâm đến ngân hàng. Dù vậy, giới ngân hàng LUÔN gây nhiều tranh cãi. Họ hiếm khi công bố những trục trặc của bản thân và có những điều họ chưa nói cho chúng ta biết.

Chênh lệch lãi suất cho vay và huy động giai đoạn 2009 - 2012luôn trong xu hướng tăng

NIM trung bình giai đoạn 2007 - 2011

NIM theo cách tính toán mới cao hơn nhiều so với cách tính truyền thống


Ngân hàng lãi bao nhiêu?

Từ xưa đến nay chức năng cơ bản của một ngân hàng thương mại vẫn là huy động tiền gửi và cho vay. Khi bạn gửi vào ngân hàng 110 đồng với lãi suất 7%, ngân hàng trả tiền lãi cho bạn 7,7 đồng mỗi năm. Sau khi dành ra một phần dự trữ bắt buộc để giữ an toàn thanh khoản, chẳng hạn như 10 đồng, ngân hàng sẽ dùng tiền này để cho vay lại kiếm lời. Giả sử, ngân hàng đã có khách hàng chấp nhận vay 100 đồng với lãi suất 12%, ngân hàng sẽ thu tiền lãi 12 đồng mỗi năm. Mức lãi của ngân hàng sẽ là 4,3 đồng (12 đồng trừ đi 7,7 đồng).

Con số 4,3 đồng lời này theo bạn là cao hay thấp? Giới ngân hàng thường cho rằng, ngân hàng lời 3 đến 4 đồng là vừa đủ để trang trải các chi phí và mức lời này hợp lý. Nhưng nếu nhìn theo góc khác, các ngân hàng có thể đang lời nhiều hơn mức này.

Để tính mức độ sinh lời của ngân hàng trong hoạt động tín dụng, người ta hay dùng đến chỉ số NIM (Net Interest Margin), được tính từ con số tiền lãi 4,3 đồng kia chia cho tài sản sinh lợi, ở đây là 100 đồng cho vay. Như vậy, tỉ lệ NIM là 4,3% mang ý nghĩa rằng: cứ bình quân 100 đồng ngân hàng cho vay được họ sẽ thu lời 4,3 đồng từ hoạt động này sau khi trừ đi chi phí vốn, nhưng chưa trừ đi các chi phí giao dịch khác, kể cả chi phí quản lý và tất nhiên là trong trường hợp không có nợ xấu.

Ngân hàng nào cũng muốn tăng NIM, bằng 2 công cụ là lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay. Chênh lệch giữa hai loại lãi suất này càng cao, người ta kỳ vọng NIM càng lớn. Trong đó, ngân hàng chủ yếu dùng lãi suất cho vay để điều chỉnh NIM của mình. Tại sao? Về mặt nguyên tắc, mức độ rủi ro là yếu tố quyết định lãi suất; rủi ro cao thì đòi hỏi lãi suất cao. Nhưng người gửi tiền hầu như không có thông tin để đánh giá mức độ rủi ro cho đồng tiền của mình khi gửi ở ngân hàng A hay ngân hàng B. Ngân hàng là người chủ động đưa ra mức lãi suất và đối với ngân hàng thì tất cả các khoản tiền gửi vào đều có rủi ro bằng nhau, nên áp dụng mức lãi suất như nhau; chênh lệch chủ yếu do thời hạn và số tiền gửi, nhưng không đáng kể. Trong khi đó, lãi suất cho vay chênh lệch rất cao vì ngân hàng có thể thẩm định mức độ rủi ro của người đi vay.

Chẳng hạn với lãi suất huy động 7%, cùng lắm các ngân hàng chỉ dám huy động tối đa 8-8,5%.

Thời kỳ tăng trưởng nóng, các ngân hàng đặt lãi suất huy động thấp và lấy lãi suất cho vay thấp. Đến thời kỳ khủng hoảng, lãi suất huy động được đẩy lên để đảm bảo duy trì thanh khoản; lãi suất cho vay cũng được đẩy lên với mức mạnh hơn nhiều để đảm bảo không chỉ ngân hàng có lời mà còn bù đắp thêm cho các khoản rủi ro. Tín dụng tăng trưởng liên tục bởi các ngân hàng luôn nhiệt tình với những khoản cho vay. Họ đặt lãi suất cao và nghĩ rằng người vay sẽ hoàn trả nhiệt tình mà quên mất rằng, lãi suất cho vay càng cao nghĩa là xác suất phá sản của dự án người vay càng lớn.

Hậu quả để lại của thời kỳ này còn nhiều điều đáng nói và điều này thể hiện qua NIM của ngân hàng. NIM cũng là vấn đề gây nhiều tranh cãi trong thời gian gần đây, khi ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, giảng viên Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, đề nghị một cách tính NIM khác. Con số ông Tuấn đưa ra cao hơn hẳn so với số liệu NIM trung bình của các ngân hàng. Nhưng nhìn về tổng thể, dù tính theo cách nào NIM vẫn thể hiện một xu hướng nhất định và cho thấy các trục trặc hiện tại trong hệ thống ngân hàng.

NIM cao - Nợ nhiều

NCĐT tập hợp lại dữ liệu của 29 ngân hàng (vì có nhiều ngân hàng không có dữ liệu trong năm 2012) cho thấy NIM trung bình của 29 ngân hàng này trong năm 2012 là 3,79% nếu tính theo cách truyền thống (do Công ty Truyền thông Tài chính StoxPlus tính toán) và 4,62% theo cách tính của ông Tuấn. Đáng chú ý hơn, trong cả 3 năm 2010 đến 2012, những con số tính toán theo cách mới cũng đều cao hơn. Và dù tính theo cách nào thì NIM đều có xu hướng tăng trong vài năm trở lại đây.

Cần lưu ý rằng, không hẳn các ngân hàng có NIM cao là lợi nhuận cao, thậm chí là ngược lại. Các ngân hàng có NIM cao trong năm 2011 thì tỉ lệ nợ xấu tăng rất mạnh vào các năm sau đó. Phần nhiều trong số đó đều là những ngân hàng thương mại yếu kém, đã sáp nhập hoặc hợp nhất trong năm 2012 và 2013.

Một trường hợp điển hình là ngân hàng Phương Tây. Năm 2011, NIM của ngân hàng này ở mức 9,46% và tỉ lệ nợ xấu là 1,3% (theo số liệu của StoxPlus). Đến năm 2013, trước khi hợp nhất với PVFC, tỉ lệ nợ xấu của ngân hàng này là 6,84%. Hay như Navibank, NIM của ngân hàng này trung bình 2 năm 2011 - 2012 là 6% thì tỉ lệ nợ xấu đã tăng từ 2,92% trong năm 2011 lên 5,64% trong năm 2012, và 8,7% vào thời điểm tháng 9.2013.

Có thể liệt kê ra rất nhiều trường hợp tương tự khác. Chẳng hạn như TienPhongBank (NIM 7,7% trong năm 2012), hay Đại Tín (NIM 5,77% vào năm 2011). Một trường hợp mới gần đây nhất là PGBank. Năm 2011, NIM là 9,56% và tỉ lệ nợ xấu là 2,1% thì đến tháng 9.2013, tỉ lệ nợ xấu đã lên đến 9,5%.

Những ngân hàng có quy mô nhỏ cũng có mức NIM cao hơn ngân hàng có quy mô lớn. Nhóm ngân hàng tư nhân có NIM cao hơn nhóm ngân hàng có cổ phần nhà nước.

Xu hướng này cũng đúng ngay cả trong trường hợp sử dụng con số NIM tính toán theo cách truyền thống. Như trường hợp của PGBank ở trên, NIM được công bố cũng lên đến 7% trong năm 2011 và 5,64% trong năm 2012.

Ngược lại, cũng có những ngân hàng có NIM ở mức trung bình, theo cả hai cách tính toán và tỉ lệ nợ xấu cũng ở mức thấp. Chẳng hạn như Eximbank, NIM trong 2011 là 3,73% (số liệu công bố) và 3,82% (số liệu ước tính mới). Tỉ lệ nợ xấu của Eximbank giảm từ mức 1,61% trong năm 2011 xuống còn 1,32% trong năm 2012.

Nếu coi nợ xấu như là một chỉ báo cho thái độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng (nợ xấu càng nhiều chứng tỏ ngân hàng cho vay “ẩu” trong quá khứ) thì nghĩa là NIM càng cao, ngân hàng càng chấp nhận rủi ro nhiều hơn. “NIM cao và nợ xấu cao thường có mối liên hệ với nhau theo kiểu hai mặt của một đồng xu”, ông Tuấn cho biết. Tức là, nợ xấu cao thường là hệ quả của việc theo đuổi NIM cao và ngược lại. Hai hệ quả này xuất phát từ cùng một nguyên nhân chính và cũng là trục trặc của hệ thống tài chính Việt Nam khi ngân hàng là số 1.

Khi ngân hàng là số 1

Theo ông Tuấn, NIM cao ở đây cho thấy cấu trúc độc quyền nhóm trong hệ thống ngân hàng, cũng như vai trò trung tâm của hệ thống tài chính gián tiếp ở Việt Nam. So sánh ở mức độ toàn nền kinh tế, NIM càng cao càng chứng tỏ rằng ngân hàng có quyền lực. Nếu anh cần vốn thì anh sẽ đi vay ở đâu? Câu trả lời số 1 vẫn là ngân hàng.

Tương tự, Tiến sĩ Lê Hồng Giang cũng đồng tình với ý kiến này. NIM cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào sức mạnh thị trường của các ngân hàng. NIM cao, sức mạnh thị trường của ngân hàng lớn nghĩa là thị trường tài chính có ít cạnh tranh. “Cạnh tranh ở đây không chỉ được hiểu trong nội bộ ngân hàng, mà còn là với các nguồn quỹ khác”, ông Giang cho biết.

Nếu so sánh với các quốc gia khác, có thể thấy NIM của các ngân hàng Việt Nam luôn ở mức cao hơn. Chẳng hạn, NIM trung bình giai đoạn 2007 - 2011 của Thái Lan là 3,3%, Trung Quốc là 2,8%, Malaysia là 2,9%, Nhật là 1,1% và Mỹ là 3,4%. Ở các quốc gia phát triển như Nhật hay Mỹ, NIM có xu hướng giảm dần rõ rệt.

Việt Nam hiện nay, cũng giống như mô hình sở hữu chéo của Nhật trước kia, có một điểm chung là dòng vốn được phân bổ chủ yếu qua ngân hàng - gần như là trung gian tài chính duy nhất. Trong khi ở nhiều nước có thị trường vốn phát triển, doanh nghiệp không phải phụ thuộc quá nhiều vào ngân hàng.

Mặt khác, NIM cao cũng có thể là hệ quả của sở hữu chéo ở các ngân hàng. “Chính sở hữu chéo đã làm trầm trọng thêm mức độ độc quyền nhóm của ngân hàng”, ông Tuấn cho biết.

Các ngân hàng có sở hữu chéo thường dành một phần vốn tài trợ cho các công ty trong chuỗi liên kết sở hữu của mình. Thông thường những khoản vay này được kỳ vọng lãi suất rẻ hơn lãi suất thị trường, hoặc các điều kiện cho vay được nới lỏng hơn. Vì thế, ngân hàng phải bình quân lãi suất để đảm bảo mục tiêu lợi nhuận bằng cách tăng lãi suất đối với các khoản vay nằm ngoài mối liên kết, sở hữu. Điều này có nghĩa nhiều doanh nghiệp khác đang chịu chi phí lãi suất cao cho những khoản vay mà mình không được nhận.

Mặt khác, trong một ngân hàng có sở hữu chéo thì thái độ chấp nhận rủi ro còn cao hơn rất nhiều. Bởi nhóm cổ đông sở hữu chéo có tới 2 nguồn lợi ích: các khoản vốn đổ vào các công ty sân sau và lợi nhuận từ ngân hàng mình đang sở hữu; trong khi nếu có rủi ro thì phần rủi ro được chia sẻ đều cho toàn bộ các cổ đông còn lại.

Ví dụ điển hình là trường hợp của bầu Kiên. Sức ép từ ông chủ này đã buộc các nhà quản lý Ngân hàng ACB lúc bấy giờ phải tìm mọi cách gia tăng lợi nhuận, cho dù họ tự nhận định và lường trước được những rủi ro của nó.

Như vậy, có vẻ mọi câu chuyện về ngân hàng ở Việt Nam đều quay về với vấn đề: sở hữu chéo. Đã có rất nhiều hướng giải quyết được đem ra bàn bạc, nhưng có lẽ điều quan trọng nhất nên làm là giảm tầm quan trọng của ngân hàng. Bài học của Nhật cho thấy, giảm tầm quan trọng của ngân hàng đã góp phần giảm sở hữu chéo. “Về lâu dài nếu muốn tăng mức độ cạnh tranh thì phải đa dạng hóa thị trường tài chính để ngân hàng không còn là kênh duy nhất của người gửi tiền hay người vay tiền, để dòng vốn luân chuyển hiệu quả trong nền kinh tế”, Tiến sĩ Giang kết luận.